VIẾT VỀ GIA PHẢ CỦA DÒNG HỌ VIỆT NAM

Trong những năm gần đây, rất nhiều nơi trong nước ta rộ lên việc viết Gia phả của dòng tộc. Họ tộc nào cũng quan tâm đến vấn đề này, nhưng thuỳ theo điều kiện thực tế về nhân sự và tài liệu lưu trữ về dòng họ mình có tồn tại hay không mà việc tiến hành được thuận lợi hay khó khăn. Nói chung họ tộc nào cũng muốn có một quyển gia phả của họ mình để nối liền mạch đời của dòng họ, để cho con cháu biết rõ tổ tông mà lo thờ phụng và tu nhân tích đức, làm tròn bổn phận của con cháu đối với bà con họ hàng đang sinh sống và đối với các vị tiền liệt tổ tiên đã khuất. Dân gian ta có câu: “Chim có tổ, người có tông”, hay : “Uống nước nhớ nguồn”. Bởi vì mỗi người được sinh ra và lớn lên trên quê hương, đất nước mình thì cần phải biết gốc tích tổ tông, bà con họ tộc để duy trì, phát huy các truyền thống tốt đẹp của họ tộc mình mà giáo dục các thế hệ con cháu nối tiếp các đời sau luôn luôn vươn lên biết rèn luyện, phấn đấu trở thành những người tốt của dòng tộc, của quê hương đất nước. Nhất là đối với những người đi làm ăn sinh sống ở xa quê hương, xứ sở lâu năm thì con cháu họ cũng không rõ về bà con họ tộc, làng xóm mình như thế nào nữa. Và cứ thế dần dần họ như những người bị mất gốc tổ tông. Vì vậy việc viết gia phả là điều rất cần thiết để giúp cho mọi người trong gia tộc, họ hàng biết rõ ràng về mối quan hệ dòng dõi huyết thống của các đời con cháu nhằm gắn bó tình thân thiết với nhau được bền lâu hơn.


Ngày nay, việc thực hiện tạo lập một quyển gia phả có nhiều thuận lợi hơn ngày xưa về mặt in ấn, trang trí và trao đổi rút kinh nghiệm qua mạng để biên soạn   gia phả cho mau chóng và có kết quả tốt. Tuy vậy, việc viết thành công một quyển gia phả không phải dễ dàng. Chúng ta phải dày công tìm hiểu kỹ càng về bà con trong từng đời, từng chi nhánh của dòng họ để có được những thông tin, dữ liệu thật chính xác tin cậy mới viết được. Tất nhiên cũng không thể cầu toàn một thời gian ngắn mà có đầy đủ mọi thứ cần thiết mà có những cái có thể bổ sung thêm về sau. Những họ tộc nào đã có sẵn gia phả cũ rồi thì thuận lợi hơn nhiều. Vì đã có cái bản gốc và chỉ bổ sung thêm tỉ mỉ các đời nối tiếp về sau, cũng như phải hoàn chỉnh một số chi tiết còn thiếu ở các đời trước mà nay đã tìm được những cứ liệu chính xác thì nên đưa vào.


Muốn thực hiện được điều đó một cách khách quan, công bằng và toàn diện thì trước tiên họ tộc phải họp lại và đề cử ra một ban biên tập (nếu chưa có gia phả) hoặc tu chỉnh gia phả (nếu đã có gia phả). Ban này được các chi nhánh của dòng tộc cử ra gồm những người có am hiểu vấn đề và có tinh thần trách nhiệm với họ tộc về việc này.
Theo chúng tôi nghĩ, một quyển gia phả có giá trị là phải đạt được các yêu cầu sau:
1-Về hình thức:
Gia phả phải được trình bày trang trọng, sáng sủa, in rõ ràng, đẹp đẽ, giấy tốt, bìa chắc chắn.
2-Về nội dung:
Cần phải thể hiện đầy đủ các mục ghi cần thiết từ lời nói đầu đến các mục ghi cụ thể nhân sự theo từng đời riêng biệt, rõ ràng, súc tích để lưu truyền lâu dài cho các thế hệ con cháu mai sau.
Trong lời nói đầu của gia phả thì cần nêu cho được ý nghĩa, mục đích và yêu cầu của việc biên tập hoặc tu chỉnh bổ sung gia phả. Chúng ta không nên trình bày quá rờm rà nhiều chuyện xa xôi để gây bề thế, ấn tượng quan trọng cho gia phả họ mình mà không liên quan mật thiết đến họ tộc ở quê hương. Vì như thế sẽ làm loãng cái ý nghĩa, mục đích và yêu cầu của vấn đề đặt ra.
Còn việc ghi các nhân sự trong từng đời thì con cháu trai cũng như gái mang họ tộc mình phải ghi theo thứ tự anh chị được ghi trước, em sau. Phải thống nhất ghi như thế từ đầu đến cuối quyển Gia phả mà không được linh động đặc cách cho một đời nào cả, kể cả những người làm quan chức lớn hoặc phân biệt đối xử nam nữ trong gia đình. Chúng tôi đã thấy có một số gia phả lại không ghi theo thứ tự đó mà ghi con cháu trai trước, gái sau. Như thế là không đúng và khó biết được rành mạch các thứ lớp anh chị em con cháu nội ngoại về sau này.


Một điều cần lưu ý rằng, gia phả là để cho toàn thể con cháu trong họ biết nên nội dung cần phải khách quan, trung thực và dung hoà không mang màu sắc chính trị hoặc tôn giáo nặng nề; cũng không nên thêu dệt, đề cao họ tộc mình quá mức làm cho các họ khác trong làng không khâm phục và khó chịu.
Chúng tôi đã đọc tham khảo nhiều quyển gia phả trong và ngoài nước của một số dòng tộc thì thấy rằng có nhiều quyển viết khá tốt, hình thức và nội dung rất hài hoà, chất lượng. Trái lại có những quyển gia phả trông rất đẹp, rất đồ sộ nhưng nội dung thì quá rộng lớn, bắt nguồn từ những đời xa xôi. Như thế, con cháu cảm thấy xa vời mối quan hệ thiết thực gắn bó của dòng tộc ở quê hương. Như gia phả họ Ngô, gia phả họ Lê, gia phả họ Phan, gia phả Nguyễn Phước tộc v.v… Tất nhiên những quyển “Siêu gia phả” đó có giá trị và ý nghĩa rộng lớn của nó. Loại gia phả đó là gia phả “cao cấp” không thiết thực cho các dòng họ lẻ ở khắp các vùng của quê hương đất nước ta ngày nay.
Theo chúng tôi nghĩ, gia phả của dòng tộc chỉ cần ghi trong khoảng từ 15 đến 20 đời là tối đa, không nên viết lùi vào dĩ vãng quá xa xôi sẽ gặp nhiều chỗ hổng khó giải quyết. Trừ một số họ tộc đã có sẵn quyển gia phả cũ nhiều đời rồi thì mới dựa vào đó làm nối tiếp, còn nếu không thì Hội đồng của họ tộc nên bàn bạc thống nhất ý kiến chọn một ông cao tằng tổ nào đó có công với họ tộc để làm mốc đời thứ nhất trong gia phả rồi ghi xuống các đời tiếp theo sau thì cũng tạo được một quyển gia phả có giá trị.


3-Cách ghi trong gia phả: con cháu trai hoặc gái mang họ tộc đều ghi Họ tên, ngày tháng năm sinh, năm mất (ghi theo Âm lịch, chú thêm Dương lịch nếu biết), mồ mả ở xứ nào. Nếu con cháu trai thì vợ họ tên gì, sinh năm nào, con ai ở thôn làng nào, sinh hạ được mấy con (ghi rõ họ và tên các con kèm ngày tháng năm sinh). Nếu là con cháu gái mang họ tộc thì cũng ghi họ tên, ngày tháng năm sinh, năm mất, gả đi lấy chồng là ai, con cái nhà ai, ở thôn xã nào, có được mấy con, họ tên gì. Đối với con cháu gái chỉ ghi thế thôi là đủ rồi và chấm dứt. Còn con cháu trai thì tiếp tục ghi vào đời kế tiếp theo trong gia phả.


Lưu ý rằng, việc ghi thứ tự tên con cháu phải theo thể lệ gia tộc ngày xưa. Nghĩa là con thì mang họ cha và các con của bà vợ cả phải ghi trước các con của bà vợ sau không kể lớn tuổi hay nhỏ tuổi. Chúng tôi thấy một số quyển gia phả dòng tộc ghi thứ tự đưa con bà vợ hai nhiều tuổi hơn lên trước con bà vợ cả. Như thế là không hợp lệ. Trường hợp có con ngoài giá thú thì ghi sau cùng và có ghi chú là con của ai (nếu cần thiết, vì điều tế nhị mà dấu kín thì thôi).

Trong từng đời của gia phả, phải đánh số thứ tự từng người trên dưới  để dễ tìm kiếm và biết được số lượng chính xác của mỗi đời. Nhưng phải lưu ý rằng, khi ghi tên một người thì ghi kèm bên cạnh là con ông số mấy thuộc đời trước với bà nào. Bởi vì ngày xưa, một ông có thể có 2,3 vợ. Do đó, phải ghi rõ con với bà nào để con cháu về sau biết mối quan hệ bà con bên ngoại.  Như thế sẽ rất thuận tiện cho việc lập một gia phả điện tử hoặc một gia phả hình ảnh khi cần.
Xin nêu cụ thể một ví dụ về cách ghi như sau:
12.Nguyễn Bá Đàm-  Đ7, con trai thứ 2 của ông Khánh -số 16Đ6 (tức là số 16 thuộc đời thứ 6) với bà Lê thị Hoằng.
-Sinh ngày : 12-6 năm  Giáp Ngọ (1894); Mất ngày: 10-3- Tân Hợi (1971).
-Mộ tại xứ: Đồi An Lạc, thôn Phú Long, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. (Đã xây lăng có bia mộ cả ông và 2 bà).
      +a.Có vợ đầu là bà  Lê Thị Thướng : con ông Tú phủ Lê Thiếp và bà…?
-Người làng Cổ Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
-Sinh ngày:…          năm Quý Tị (1893);   Mất ngày 13-11 năm Nhâm Tý (1912).
-Lăng mộ tại xứ đồi An Lạc, thôn Phú Long, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. (Đã xây lăng có bia mộ cả ông và 2 bà).
-Sinh hạ được 1 con trai là Nguyễn Chương 9 -11 năm Nhâm Tý (1912).
    +b. có vợ kế là bà Hoàng Thị Ngữ: con ông Lục phẩm Hoàng Quý và bà…? người làng Hội Yên, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
        -Sinh ngày: ?…năm Ất Mùi (1895); Mất ngày: 12-12 năm Mậu Thân (1968).
        Sinh hạ được 3 trai, 3 gái:
                 -Nguyễn Thị Liễn (Sn: Kỷ Mùi =1919, Mn: N. Thìn= 2012).
                -Nguyễn Thị Thiều (Sn: Tân Dậu =1921; Mn: Canh Thìn =2000).
                -Nguyễn Bá Bân (Sn: Quý Hợi =1923, )
                -Nguyễn Bá Quỳnh (Sn: Ất Sửu = 1925, )
                -Nguyễn Bá Khẹc (Sn: Đinh Mão =1927; Mn: Kỷ Tị = 1929)
                -Nguyễn Thị Ngoãn (Sn: Kỷ Tị = 1929; Mn: Canh Tý = 1960).
   
Ghi chú:Ông Nguyễn Bá Đàm là một thầy thuốc Đông y danh tiếng của huyện Hải Lăng; là người con trai nối nghiệp gia truyền thuốc Đông y của cụ thân sinh Nguyễn Bá Khánh-cựu quan ngự y thời vua Đồng Khánh (1885-1888). Được phong danh hiệu: “Hàn lâm đãi chiếu”
                                                      ====


Trong phần ghi chú, có thể nêu lên một số con cháu có học vấn (như kỹ sư, bác sĩ, ThS,TS, PGS, GS…) và có tài xuất sắc nghề nghiệp (như thợ mộc, thơ may, thợ thêu ren, thợ chạm trổ, thợ đúc mạ, kim hoàn, vận động viên thể thao, cầu thủ, v.v…), một số con cháu học giỏi đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế thì cũng nên ghi chú thêm vào gia phả để khích lệ động viên các thế hệ nối tiếp sau thêm tự hào và noi gương theo. Mặt khác, cũng có thể ghi chú thêm về những nhân vật có sự nghiệp hoạt động chính trị (ghi cấp từ trưởng huyện trở lên), về nghiệp quân sự từ cấp Tá trở lên (cần ghi rõ Tá, Tướng của quân đội Quân đội Nhân Việt Nam hay quân đội Việt Nam Cộng hoà …).


4.Phần sơ đồ: Nên lập một sơ đồ gia phả, hoặc cây gia phả rồi đưa ra sau phần ghi xong cụ thể từng người trong các đời. Phần sơ đồ gia phả hay cây gia phả chỉ ghi tên đàn ông, không ghi tên đàn bà. Phần này phải làm sao cho khoa học, tạo lập thế nào cho dễ xem và hình dung được mối quan hệ bà con thân thuộc họ hàng.


5.Phần phụ lục: Phần này có thể đưa những cứ liệu, biểu đồ, tranh ảnh, văn tự chữ Hán, chữ Nôm còn lưu giữ được từ xưa tới nay có liên quan đến dòng họ để cho bà con trong họ và mọi người tham khảo, tìm hiểu.


Nói chung một quyển gia phả phải thể hiện được tinh thần đoàn kết trong họ tộc. Mọi người khi xem thấy yên lòng và tin cậy lớp con cháu càng về sau càng có nhiều ưu điểm và quý mến lẫn nhau. Dù cho bà con có ở xa hay gần cũng đều có quan hệ gắn bó với nhau trong tình cảm đại gia tộc thuận hoà thân thiết.


Nhìn chung, hiện nay rất nhiều họ tộc đã tạo lập được quyển Gia phả của họ tộc mình hoặc bổ sung tu chỉnh lại cho đầy đủ chính xác một cách thận trọng, chu đáo. Tuy nhiên, cũng có nhiều họ tộc ở làng quê vẫn chưa có điều kiện làm được quyển Gia phả cho đúng nghĩa của nó mà chỉ như là quyển sổ ghi chép lại tên tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ v.v… của con cháu trong họ để mà biết mối quan hệ bà con dòng tộc mình mà thôi.
Mặt khác, lại có một số ít dòng tộc có khả năng và điều kiện chủ quan và khách quan nhưng lại không có ai có vai vế uy tín trong họ tộc để quan tâm chủ trì vấn đề biên tập hoặc tu chỉnh, bổ sung gia phả thật tích cực, nhiệt tình. Vì thế nên thời gian cứ trôi qua hết năm này đến năm khác mà vẫn chưa thực hiện được nguyện vọng của bà con trong dòng tộc có được một quyển Gia phả cho thật đàng hoàng, tử tế.
Nam


Hy vọng rằng, càng về sau này, người ta sẽ học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để có thể họ tộc nào cũng tạo lập được một quyển Gia phả của dòng tộc mình một cách đầy đủ, rõ ràng hoành tráng.
           
                                                                N.H.T                      
          
  Phước Vĩnh, TP. Huế, Quý Xuân năm Kỷ Sửu =2009




Ghi chú: 1.Bức ảnh trên là bìa của quyển Gia phả tộc Nguyễn Bá ở làng Phú Long , Hải Phú, Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị -đã in ấn lưu hành nội tộc vào năm Nhâm Ngọ =2002. Làng này là xuất xứ từ gốc làng Phú Xuân ở Huế ra lập nghiệp tại tỉnh Quảng Trị.
2. Bài này đã được đăng trong tạp chí XƯA &NAY số 329 -2009.

 ==========

Làm gia phả, thiết kế cây gia phả, phả đồ các dòng họ


Email: Dichvugiapha@gmail.com
Mr Sơn: 0936 375 511
Cảm ơn các bạn.

TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM VỀ “VIẾT GIA PHẢ”

  Việc viết gia phả trong họ đã có rất nhiều người quan tâm. Trên tập san Họ Bùi Việt Nam: Ông Bùi Thiết viết bài “Gia phả là gì?” (tập 7 trang 29-31); Ông Bùi Xuân Vịnh có bài “Trao đổi việc biên soạn Gia phả” (tập 13 trang 39-38); Ông Bùi Văn An có bài “Viết Gia phả bằng mã số” (tập 18 trang 46-48)… đều là những tài liệu quý để tham khảo. Nay tôi xin đề cập một góc độ khác: “Việc khôi phục Gia phả”.
     Chúng ta đều biết, với một quốc gia phải có bộ Quốc sử ghi chép lại sự phát triển của đất nước qua từng thời kỳ dù thịnh hay suy. Với một dòng họ cần có Gia phả để ghi lại sự phát triển của dòng họ qua từng thế hệ. Bởi vậy, từ xưa tổ tiên ta rất quan tâm đến Gia phả, có những người đi lập nghiệp xa quê hương thường sao chép để mang theo.
     Tuy vậy, do những biến cố trong lịch sử xã hội, do tàn phá của chiến tranh hoặc do sự yếu kém trong việc bảo quản giữ gìn của con cháu, nhiều chi họ đã không còn Gia phả cũ để lại. Lại có trường hợp thay đổi dùng chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán, những bản Gia phả cũ không kịp thời biên dịch và ghi tiếp các thế hệ sau nên một thời gian dài để đứt quãng. Đối với con cháu, khi tuổi trẻ còn lo hoàn thành nhiệm vụ bản thân được xã hội giao hoặc lo kinh tế nuôi sống bản thân và gia đình nên thường ít quan tâm tìm hiểu về các bậc tiền bối. Nhưng nếu họ muốn tìm hiểu mà Gia phả không còn thì cũng không thể, nên có người đã đặt tên con trùng với tên húy của bố đẻ mình (phạm húy) – đây lại thuộc trách nhiệm của các bậc cha chú không những hôm nay mà cho các thế hệ mai sau. Chi họ chúng thôi cũng không nằm ngoài lệ trên.
     Đầu năm 1999, gia tộc Bùi chúng tôi đã có chủ trương khôi phục lại Gia phả. Đây là việc làm rất khó do tài liệu gốc còn lại không nhiều. Theo tôi:
     1.Trước hết phải tìm người chủ biên và cộng sự. Họ phải là người có tâm huyết, có ít nhiều kiến thức về việc họ, có điều kiện thời gian, hoàn cảnh giao tiếp và tự nguyện đóng góp công sức cho việc họ. Họ tộc chỉ cần động viên cấp văn phòng phẩm và tài liệu cần thiết.
     2.Phải có đủ thời gian để sưu tầm tư liệu, bao gồm những tài liệu cũ, những khẩu truyền của các vị cao niên trong và ngoài họ, nghiên cứu tìm tòi qua sách báo, lịch sử để bổ sung và chứng minh thêm những tư liệu khẩu truyền sưu tầm được về mức độ chính xác hay còn nghi vấn làm cơ sở cho việc soạn thảo tốt hơn.
     3.Cả họ phải góp sức cho nhóm biên soạn những tin tức thông qua hình thức:
a.Phát phiếu điều tra cho từng hộ. Mỗi hộ một bản điều tra theo từng thế hệ để ghi lại toàn bộ thông tin vè gia đình mình (tên, tuổi, nơi sinh, quê quán, thuộc chi, đời nào và một số điểm khác như: nghề nghiệp, nơi cư trú…) ghi rõ cả vợ, chồng và con cái. Đối với các gia đình có bố, mẹ hoặc ông, bà đã quá cố, con cháu ghi thay và bổ sung thêm năm mất, ngày giỗ, nơi an táng (bằng một bản riêng).
b.Phát bản tự bạch: Với những thành viên bản thân và vợ có những đặc điểm trong cuộc đời hoạt động của mình về học hành thi cử, về công đức đối với họ tộc, quê hương, đất nước đã được thừa nhận bởi các quyết định, bằng khen, huân huy chương…(chúng ta coi đây cũng giống như những sắc phong của vua chúa thời phong kiến, nên các chứng cứ trên có kèm theo bản photocopy thì tài liệu lưu càng quý giá hơn). Đây cũng là nội dung quan trọng trong Gia phả.
     Tự bạch có thể viết cho mình hoặc con cháu viết thay cho cha mẹ, ông bà. Thậm chí nhờ người biết rõ về người thân của mình viết hộ. Các bản điều tra và tự bạch được tập trung về họ. Toàn bộ tư liệu quý giá trên thu thập được, sẽ được chỉnh lý, sắp xếp hệ thống hóa phục vụ cho việc biên thảo. Tục ngữ có câu: “có bột mới gột nên hồ” là thế đó.
     4.Nội dung kiến nghị nên có các phần sau:
a.Phần 1Mở đầu: Cần nêu rõ mục đích, ý nghĩa của việc soạn thảo, quá trình sưu tầm tư liệu, soạn thảo, mức độ soạn thảo (Gia phả hay lược phả), nội dung trong bản soạn thảo.
b.Phần 2: Giới thiệu sơ lược về quê hương. Theo quy luật chung, một dòng họ lập nghiệp tại địa phương nào đều có sự tác động qua lại giữa địa phương và dòng họ trong quá trình phát triển. Bởi vậy giới thiệu để con cháu biết khái quát về quê hương từ lúc dòng họ về lập nghiệp đén nay. Khi con cháu nghĩ đến dòng họ là nghĩ đến quê hương và ngược lại nhằm gây tình cảm giữa con cháu với quê hương và dòng họ ngày càng đậm sâu hơn.
c.Phần 3: Sự phát triển của dòng họ: Dựa vào cứ liệu để soạn thảo, nhưng dù Gia phả hay lược phả cũng phải nêu lên hai nội dung chính:
     a)Xác định mức độ soạn thảo, thông thường trong Gia phả cần nắm rõ: Cụ tổ chung cao nhất là ai? Từ đâu đến? Đến bằng cách nào? Đến bao giờ? Từ đó đến nay đã qua bao nhiêu thế hệ? Sau đó lập thành hệ phả (hay gọi là cây Gia phả). Hệ phả có thể lập trên một tờ. Đối với họ lớn, chia thành nhiều chi, mỗi chi lập thành 1 tờ, về sau có thể lập cho từng tiểu chi…Khi cần thì có thể gắn kết lại sẽ có bức tranh tổng thể để con cháu nhìn vào sẽ biết rõ sự phát triển của dòng họ và thế thứ, thế vị của mình.
     b)Lược thuật sự phát triển: Thực chất là lý lịch sơ yếu của từng thành viên trong họ, cần lưu danh cho hậu thế biết. Phần này nên sắp xếp theo từng thế hệ (từng đời) để khi con cháu muốn biết có thể tìm dễ dàng, nội dung chi tiết tùy thuộc vào yêu cầu của từng họ tộc và cơ sở tư liệu sưu tầm được.
d.Phần 4: Một số quy định: Tuy Gia phả chỉ sử dụng trong nội bộ dòng tộc nhưng cần có quy định thành văn để các thành viên làm căn cứ thực hiện.
     -Nguyên tắc, trách nhiệm, phương pháp bảo quản giữ gìn tài liệu.
     -Thời gian định kỳ và trách nhiệm ghi bổ sung, nội dung bổ sung.
     -Trách nhiệm và phương pháp đóng góp của các thành viên vào tư liệu dòng họ.
     -Việc phổ biến cho con cháu biết gia phả dòng họ.
     -v.v…
e.Phần 5: Phụ lục: Phần này là hệ thống lại một số tài liệu sưu tầm được để cho con cháu tham khảo, vừa chứng minh rõ thêm các tiểu tiết trong bản soạn thảo không thể viết chi tiết dài dòng.
     5.Ngoài ra nên mở thêm quyển sổ tộc tịch. Mỗi khi thành viên nam lập gia đình  sẽ ghi vào thành một tộc tịch riêng. Trong sổ tộc tịch:
-Trang bên trái: Tên các thành viên trong hộ, ngày sinh, quê quán, thuộc chi nào? Đời thứ mấy?
-Trang bên phải: Ghi các đặc điểm khác, thí dụ: Con gái lấy chồng tên gì? Ngày tháng năm nào? Về đâu? Hoặc cả gia đình  chuyển lập nghiệp nơi khác là địa phương nào? Ngày tháng năm nào?...
     In sẵn một tờ giấy báo thay đỏi hàng năm về các nội dung: Sinh hay tử, kết hôn hay ly hôn, thay đổi khác… Ghi rõ ngày tháng năm về các nội dung cụ thể sự thay đổi người báo thay đổi.
     Hai việc làm trên là tích lũy tư liệu phục vụ cho bổ sung Gia phả sau này.
     Năm nội dung trên là những việc mà chúng tôi đã và đang làm, tuy đã khởi động cách đây 12 năm, nay chỉ dự thảo với mức độ “Lược phả”. Với mong muốn có được sự giúp đỡ của các chi họ về kinh nghiệm và những góp ý hướng dẫn chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ họ tộc của mình, tôi mạnh dạn viết lên để quý vị xem và chỉ giáo.
     Xin chân thành cảm ơn!     
BÙI ĐÌNH PHI

Bài viết trên được chúng tôi sưu tầm từ internet - quý vị có nhu cầu tư vấn thiết kế gia phả kỹ hơn xin vui lòng liên hệ với chúng tôi: 

Làm gia phả, thiết kế gia phả, phả đồ các dòng họ

Mr Sơn: 093.637.5511
Cảm ơn các bạn.

Việc viết gia phả

Việc viết gia phả
Trước khi thực hiện việc viết gia phả, người ta thường lập biểu đồ theo kiểu hình cây hay hình xương cá. Nghĩa là: gốc hay xương sống là thủy tổ, còn các nhánh là tổ tiên các đời, nối dòng đến lớp con cháu mới sinh. Với cách viết nào đi chăng nữa, đối với các tiền nhân phải có các mục sau:
Tên: Gồm tên húy, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường theo tập quán địa phương? Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ông nào? Bà nào? Ngày, tháng, năm sinh (có người còn ghi được cả giờ sinh). Ngày, tháng, năm mất? Thọ bao nhiêu tuổi? Mộ táng tại đâu? (Có người ghi được cả nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Vào tháng, năm nào? Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất: Thi đậu học vị gì? Khoa nào? Triều nào? Nhận chức vị gì? Năm nào? Được ban khen và hưởng tước lộc gì? Sau khi mất được truy phong chức gì? Tước gì? (Đối với những vị hiển đạt thì mục này rất dài).
Vợ: Chính thất, kế thất, thứ thất... Họ tên, con gái thứ mấy của ông nào, bà nào? Quê ở đâu? Các mục ngày tháng năm sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
- Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: Con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).
- Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng...
Ngoài những mục ghi tên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt của các vị tiên tổ, những câu đối, những áng văn hay, những bài thuốc gia truyền... đó là những tài quý giá mà chúng ta để thất truyền, chưa biết khai thác.
 Những nội dung ghi trên chỉ có tính chất gợi ý với các bậc huynh trưởng các họ đang chăm lo công việc phổ biến và tục biên gia phả dành cho con cháu đời sau. Còn phần trên gia phả hoàn chỉnh hay sơ sài, các cụ còn dành lại cho ta được bao nhiêu biết bấy nhiêu ai dám sáng tác thêm? Tuy nhiên, nếu tìm được quốc sư, hoặc trong gia phả, thần phả khác những tư liệu liên quan thì có thể cước chú kỹ, giúp cho đời sau thêm sáng tỏ.
Gia phả được coi là hoàn chỉnh, phải là một gia phả được ghi chép rõ ràng, chú nghĩa chân phương, có ghi rõ tên người sao lục, biên soạn thuộc đời thứ mấy, năm nào, triều vua nào, căn cứ vào bản nào, tên người tục biên qua các đời cũng có cước chú rõ ràng. Đầu gia phả có lời tựa ghi được nguồn gốc xuất xứ của thủy tổ, có cứ liệu thành văn hay truyền ngôn.

Bài viết trên được chúng tôi sưu tầm từ internet - quý vị có nhu cầu tư vấn thiết kế gia phả kỹ hơn xin vui lòng liên hệ với chúng tôi:

Làm gia phả, thiết kế cây gia phả, phả đồ các dòng họ

Email: Dichvugiapha@gmail.com
Mr Sơn: 0936 375 511
Cảm ơn các bạn.

TẠO LẬP GIA PHẢ ĐỂ NHỚ VỀ NGUỒN CỘI


Từ thời xa xưa, ông cha ta đã có truyền thống tạo dựng gia phả như một cuốn sổ ghi chép tên tuổi, thân thế của những người trong dòng họ để lưu lại lịch sử của tổ tiên mình cho con cháu đời sau. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đã có lúc, việc tạo dựng gia phả không được mấy người quan tâm. Nhưng trong những năm gần đây, có rất nhiều người lại bắt đầu tìm kiếm lại gốc tích dòng tộc mình và mong muốn lập gia phả để con cháu các thế hệ kế tiếp biết được ông cha mình do ai sinh ra, tổ tiên công đức ra sao. Phải chăng khi đời sống kinh tế ổn định, sự nghiệp đã công thành danh toại thì con người lại “phú quý sinh lễ nghĩa”? 

Tạo lập gia phả để biết “cây có gốc, sông có nguồn” 

Lâu nay thói quen của nhiều người khi hình dung về dòng họ của mình vẫn chỉ qua lời kể lại của cha mẹ, ông bà; và vì thế mà lịch sử của dòng tộc hầu hết chỉ dừng lại đến đời ông Cố, ông Sơ là hết. Làm thế nào để con cháu không quên gốc gác, tổ tiên? Nếu mỗi dân tộc đều có lịch sử của mình, thì mỗi dòng tộc cũng vậy. Ghi chép lại lịch sử của dòng tộc mình để con cháu đời sau hiểu rõ về tổ tiên, nắm được nguồn gốc mình đã được sinh ra là một nhu cầu tâm linh của con người. Bên cạnh đó, nhu cầu về một nơi có thể quy tụ những người cùng dòng tộc về cúng bái tổ tiên, ôn lại những điều vinh quang cũng như cay đắng của dòng họ mình và lấy đó làm điều răn con cháu cũng luôn là nỗi niềm của hầu hết những người trưởng tộc hay người lớn tuổi. Điều này có thể thấy rất rõ qua những lời đề tựa của những cuốn gia phả nổi tiếng. 

Dòng họ Cao vốn xuất thân từ vùng Nho Lâm, Diên Châu, Nghệ An (nay là Diên Thọ, Diên Châu, Nghệ An), đã được các bậc tiền nhân tạo lập gia phả của dòng họ gần 400 năm nay với những tên tuổi ghi được nhiều công lao cho xã hội, đất nước như Cao Văn Lầu (nghệ sĩ cải lương), Cao Kiến Thiết, Cao Đăng Chiếm (nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ), Cao Văn Tửu (nguyên phó Thủ tướng Chính phủ)… Gia phả họ Cao đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di sản văn hóa dân tộc. Dòng họ Cao có bảy nhánh gồm Cao Phong, Cao Cự, Cao Trọng, Cao Đăng, Cao Như, Cao Tiến, Cao Văn. Trong lời tựa của gia phả họ Cao do Phó bảng Cao Bá Tuyên chấp bút năm 1730 bằng Hán tự, cũng đã nêu rõ (tạm dịch): “Ta nghe loài cây bền tốt thì nẩy lá cành. Đến mùa thì nở hoa quả, chỉ chung một gốc. Dòng nước chảy xưa thành sông ngòi, phân tán thành ao rãnh cùng chung một nguồn. Vì vậy người ta chia ra làm đại tôn, tiểu tôn, quần chiếu, quần mục nhưng chìm nổi một dòng, sông ngòi chung phái chưa ai không cùng một tổ mà sinh ra vậy. 

Ta thấy người đời nay tuy là kẻ học hành văn hóa, cũng không biết thế hệ mình từ đâu tới, huống chi người thất học, biết sao được lý lịch mình từ đâu ra. Thậm chí tình thân trong một gia đình mà dạm vợ gả chồng với nhau; lấy tên húy tổ tiên đặt cho con cái. Họ không biết luân lý đến mức ấy được sao? Nếu không ghi chép vào giấy mực, cất vào rương nếp thì những công đức của tổ tiên biết đâu mà nêu? Những tên húy, tên kiêng tránh biết đâu mà kiêng tránh”. 

Niềm nhiệt thành với dòng họ, lòng tôn kính tổ tiên, nhớ về nguồn cội là một trong những truyền thống lâu đời của người dân Việt; nó đã thấm sâu vào máu thịt và tiềm thức của mỗi con người. Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi ngày nay nhiều nhà thờ tổ được xây dựng; nhiều người bắt đầu tìm kiếm gốc tích dòng tộc mình và bàn nhau tạo dựng gia phả. 

Tạo lập gia phả, xây nhà thờ tổ là một nét đẹp của văn hóa Việt 

“Theo tôi, gia phả là một sự ghi nhận và ghi lại sự phát triển liên tục, kế tiếp nhau của dòng họ qua nhiều thế hệ. Đồng thời qua đó có ý nghĩa giáo dục cho các thế hệ sau biết được truyền thống, cội nguồn của dòng họ đó. Đây không phải là một tục lệ cổ hủ, mà nó là một nét văn hóa, nó thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt”, anh Trần Quốc Phòng, hậu duệ dòng họ Trần được lập nghiệp từ thời Trần Cảnh - Trần Thái Tông, niên hiệu Kiến Trung, quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Thăng Long, giữ ngôi vua 175 năm (1225-1400) đến đời Trần Án - Trần Thiếu Đế, niên hiệu Kiến Tân (1398-1400); đã nói như thế về ý nghĩa mà mỗi cuốn gia phả của từng dòng tộc đã ghi rõ trong từng lời tựa: cha ông muốn truyền lại cho con cháu biết gốc tích mình từ đâu, họ hàng mình là ai và điều quan trọng nhất là nhắc nhở con cháu “uống nước phải nhớ lấy nguồn”. 

Ở Việt Nam, từ xưa đã có nhiều dòng tộc tạo lập nên những cuốn gia phả nổi tiếng như Gia phả Nguyễn Văn Lai Xá là một dòng tộc có cội nguồn tại làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Chỉ tính từ Cụ Tổ Điều (1832-1904), đến nay có hơn 1000 người sống trên khắp mọi miền đất nước và ở cả nhiều nước trên thế giới; hay như Gia phả Thọ Xuân Vương – Miên Định, Gia phả Ngô – Lê, Gia phả họ Cao…cũng là những dòng tộc lớn, ghi được nhiều công đức với đất nước, xã hội. 

Là hậu duệ đời thứ 77 của dòng họ Cao, anh Cao Thanh Bạch rất tâm đắc với vấn đề tạo dựng gia phả, anh cho biết, tộc họ Cao ở phía Nam có nguồn gốc từ hai người họ Cao di cư từ phía Bắc vào. Trên đường đi, người anh ngã bệnh; người em đã cõng anh vào đến vùng đất bây giờ là huyện Bình Chánh, TP.HCM. Từ đây mà nhánh họ Cao hình thành và ngày càng phát triển. Mới đây nhánh họ Cao này đã xây nhà thờ tổ ở Bình Chánh, TP.HCM để mỗi năm đến tiết Thanh minh, tất cả con cháu dòng họ Cao tụ hợp về cùng nhau ôn lại lịch sử tổ tiên và thăm hỏi, giúp đỡ nhau. Anh Cao Thanh Bạch cho rằng: “Thời phong kiến có nhiều họ tộc lập được gia phả như nhà Nguyễn, nhà Lê hoặc các đại thần có nhiều công đức với xã hội, triều đình. Thường lập gia phả theo họ tộc thì có họ Cao, họ Phan, họ Tôn…Gia phả nhằm mục đích ghi lại truyền thống, công đức của cha anh, các bậc tiền bối, tổ tiên có công với nước. Lập gia phả thường gắn liền với xây nhà thờ họ. Mục đích là thờ cúng, tưởng nhớ công ơn các bậc tiền nhân, bậc sinh thành. Đây là một việc làm hiếu nghĩa của con cháu và để đoàn kết giúp đỡ thế hệ sau thành đạt; để giáo dục truyền thống cho con cháu về đạo đức nhân nghĩa trong cuộc sống. Đây là một nét văn hóa độc đáo của người Việt”. 

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, có khi nào ta ngồi lại và để lòng mình lắng xuống trong cảm xúc của sự hồi tưởng: tổ tiên mình là ai, ông bà cha mẹ mình đã bôn ba kiếm sống như thế nào? Chắc chắn những phút giây hoài niệm ấy đã luôn làm day dứt nhiều người con mang dòng máu Việt; bởi hướng về nguồn cội, nhớ ơn tổ tiên đã là một nét văn hóa ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt. Chính vì thế, trong những năm gần đây, có rất nhiều bà con kiều bào đã tìm về quê cha đất tổ, quyên góp tiền bạc để thân nhân tại Việt Nam dựng nhà thờ tổ, tạo lập gia phả của dòng họ mình như bà Nguyễn Thị Nấm, một Việt kiều ở Mỹ, cũng có ý nguyện tìm kiếm, lập lại gia phả tộc họ Nguyễn ở Bình Chánh, TP.HCM. Bà cùng nhiều người thân đang định cư ở xứ người mong muốn tìm về nguồn cội dòng tộc mình. Việc tạo lập gia phả để ghi nhớ công đức tổ tiên nhưng cũng là cách để mỗi con người nhận biết được giá trị của chính mình khi là một thành viên, một giọt nước trong dòng sông, một nhánh lá trong cội rễ của dòng tộc mình. 

Để có thể tạo lập gia phả, theo anh Bạch thì: “Việc lập gia phả thì mỗi họ tộc có cách lập gia phả khác nhau tùy theo suy nghĩ của họ tộc đó. Nhưng có những nét chung nhất là muốn lập gia phả thì phải thực hiện từng bước, phải xây dựng phương án, thu thập được thông tin rộng rãi và vận động được bà con họ tộc tham gia. Đây là cách làm mà nhiều họ tộc đã thực hiện được”. 

Việc tạo lập gia phả đang rộ lên trong những năm gần đây như một việc làm hiếu nghĩa của con cháu đối với tổ tiên khi mà họ đã “công thành danh toại”, bởi vì khi đã không quá vướng bận chuyện cơm áo gạo tiền, chuyện sinh nhai, con người thường có khuynh hướng nhìn lại mình và ngẫm lại quá khứ, tìm về cội nguồn. “Những người thành đạt và cao tuổi thì thường có ý nguyện giúp gia đình lo việc họ tộc, nghĩ về tổ tiên, cội nguồn, xem việc hiếu đạo của gia đình là trên hết. Do đó, việc lập gia phả phù hợp với nét văn hóa truyền thống của dân tộc” – ý kiến này của anh Cao Thanh Bạch cũng là ý kiến chung của rất nhiều người mà chúng tôi đã gặp khi cùng chia sẻ mong muốn tạp lập gia phả cho dòng tộc mình. 

Tạo lập gia phả, một biểu tượng tinh thần, tâm linh và đậm nét văn hóa Việt là một việc làm cần thiết và đáng khuyến khích, bởi vì như ông Võ Văn An, Chi hội trưởng Chi hội “Nghiên cứu và thực hành gia phả TP.HCM” đúc kết sau nhiều năm nghiên cứu và tạo lập gia phả, thì gia đình nào hiểu biết về gia phả sẽ có cách chèo lái, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nội bộ và dòng họ, cũng như có thể ngăn ngừa, chống được tệ cục bộ, bè phái, gia đình trị xuất phát từ họ tộc, huyết thống. Nhiều nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng: gia phả rất cần thiết cho mỗi gia đình, dòng họ, cho cả các ngành khoa học, xã hội. Với mỗi gia đình, gia phả là vật thiêng liêng mang một ý nghĩa tinh thần và tâm linh cao cả. 

 Đúng và rất đúng với những người có ý thức tôn kính tổ tiên và quý trọng tình cảm họ hàng gia tộc. Gia phả là lịch sử của một dòng họ, một gia đình lớn. Thiết tưởng không cần phải nói nhiều về ý nghĩa mà mỗi cuốn gia phả của từng dòng họ đều đã nói rõ trong từng lời tựa. Đành rằng cái ăn, cái mặc để nuôi sống gia đình và bản thân là việc hàng đầu. Nhưng có thấy nỗi day dứt của những người có tâm huyết muốn truyền cho con cháu biết đời cha mình do ai sinh ra, từ đâu đến, tổ tiên công đức ra sao, ngặt vì gia phả đã mất; có thấy được nỗi niềm của những người trú ngụ ở phương xa không được cha ông truyền cho biết gốc gác của mình từ đâu, họ hàng là ai, khi đó mới thấy đầy đủ ý nghĩa của hai chữ "Gia phả-Gia bảo". Giọt nước rất quý đối với người sống trên sa mạc, còn đối với người sống ven sông, dễ gì mỗi lần "uống nước" lại phải "nhớ nguồn". (Theo vietnamgiapha.com)


Theo TP
Bài viết trên được chúng tôi sưu tầm từ internet - quý vị có nhu cầu tư vấn thiết kế gia phả kỹ hơn xin vui lòng liên hệ với chúng tôi: 

Làm gia phả, thiết kế cây gia phả, phả đồ các dòng họ

Email: Dichvugiapha@gmail.com
Mr Sơn: 0936 375 511
Cảm ơn các bạn.

SỰ RA ĐỜI CỦA CÂY TỘC PHẢ


Gia phả học hiện nay được phát triển chưa từng thấy, từ các báo chí chuyên ngành đến các site trên Internet, đều có những chương trình tìm hiểu về gia phả. Người nào cũng có thể dựng lại cây tộc phả của dòng họ mình. Nhưng từ khi nào đã nảy ra ý nghĩ dựng lại tộc phả theo hình một cái cây cành lá chằng chịt?
Giáo sư Olivier Faron ở Đại học Lumière - Lyon - II đã giới thiệu trên tạp chí L’Histoire số tháng 1/ 2001. Xin được dịch giới thiệu bạn đọc.
Đến cuối thế kỷ XV, việc biểu hiện tộc phả theo hình “cây tộc phả” mà ngày nay được được áp dụng phổ biến tại các dòng họ châu Âu, mới đi vào tập quán. Lúc đầu nó được truyền bá trong giới tu sĩ Thiên chúa giáo và trong các dòng họ vương công, cũng như các tầng lớp thượng lưu. Các chức sắc ở vương quốc Flomnee cũng bắt đầu phả hệ của mình theo hình cây.

Cây tộc phả khắc trên gổ năm 1493 của dòng họ Heirich Đệ nhất (875 - 936)
Hoàng đế nước Đức người sáng lập triều Saxon.
Việc xây dựng phả hệ dưới dạng một cái cây là do sự gặp gỡ giữa hai dòng lịch sử đan xen chặt chẽ với nhau: là một cách quan niệm về thế giới và mặt khác là muốn hợp thức hóa một quyền uy chính trị.
Trước hết là cách nhìn thế giới. Quả thật thời cổ đại đã để lại một di sản lớn trong lĩnh vực này. Nhưng tời Trung đại cũng đưa đến một cách biểu đạt bằng ngôn ngữ đồ thị xoay quanh hình ảnh cái cây. Vì cây gắn liền với hình ảnh gia đình: đó là một sinh vật nối liền giữa đất với trời, mà nhựa sống đã nuôi dưỡng những cành sống cũng như những cành chết.
Sự phát minh đồ thị đó chứng tỏ một đầu óc duy lý đang hình thành. Vào cuối thời Trung đại đã có những lời nói bác học bàn về những cái cây được phân loại hay được biểu đạt.
Tiếp đấy là việc hợp thức hóa một quyền uy chính trị. Đối với các tu sĩ, lịch sử là đồng nhất với tộc phả. Vào cuối thế kỷ XII có một sự tổng hợp trật tự tộc hệ và trật tự niên biểu, cụ thể là đối với tầng lớp thư lại, cần phải xây dựng một giáo cụ trực quan có khả năng lần lại những dây liên hệ của các dòng họ đã được mô tả trong Kinh thánh.
Chính ở đây tộc phả đã gặp quyền lực. Nó có thể giúp cho việc giải trình một luận thuyết chính trị, đặc biệt là khẳng định tính thiêng liêng của các vương triều trị vì. Ở đây cần phải thiết lập lại những mắt xích của tộc hệ cho thấy các gia đình vương hầu có mối liên hệ với một dòng họ huyền thoại. Ví như các vị thần đã tham gia chiến tranh thành Troie chẳng hạn, nay hậu duệ của họ là những dòng họ nào.
Vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, hoàng đế Giecmanh, Maximilien đã tự mình can thiệp vào việc thiết lập tộc phả của dòng họ Habsbourg trị vì ở Đức. Cây tộc phả đồ sộ đó đã tham gia dựng nên một hình ảnh thực sự về chính trị.
Sáng kiến của Maximilien đã được lập lại sau này ở các dòng họ khác. Đến cuối thế kỷ XVIII, khi ý thức dân tộc xuất hiện, thì nó lại cần đến nhiều hơn sự hỗ trợ của những tộc phả, vừa là thực, vừa là huyền thoại. Người Hy Lạp là con cháu của Homère, người Rumani là hậu duệ của người Đaxi. Vì các vị thiên tổ là những nhân vật đáng ca ngợi nên nhiều dân tộc ở châu Âu đã tìm đến vai trò lịch sử của một vị tổ hàng đầu nào đó. Điều đó càng củng cố thêm quyền uy của con cháu. Và khi mối dây liên hệ với tổ tiên càng mong manh, thì việc xây dựng một cây tộc phả lại càng phải làm kỹ.
Điều đó được chứng minh cả trong những hiện tượng gần đây. Chỉ cần lần giở trang Internet, ta có thể phát hiện được những cây tộc phả của những dòng họ không có vai trò lịch sử gì lớn. Sự gặp gỡ của đồ thị và của sự diễn giải ở đây lại càng rõ rệt. Ý muốn phổ biến rộng rãi sự tiếp nối của những tên tuổi và những nhân vật phần lớn không được ai biết đến, cho ta thấy rõ ý tưởng muốn dùng tộc phả để khẳng định quyền uy: đấy là quyền uy của một cá nhân trong dòng họ của mình, và nhất là quyền uy của một dòng họ trong cộng đồng!
ĐH dịch (Theo Xưa & Nay, số 95, tháng 7/2001)

Bài viết trên được chúng tôi sưu tầm từ internet - quý vị có nhu cầu tư vấn thiết kế gia phả kỹ hơn xin vui lòng liên hệ với chúng tôi: 

Làm gia phả, thiết kế cây gia phả, phả đồ các dòng họ

Mr Sơn: 0936 375 511
Cảm ơn các bạn.

Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ Việt Nam

Ngày 26/5/2013 tại 72 B- phố Thụy Khuê- Hà Nội, Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ Việt Nam đã tổ chức cuộc với sự tham gia của các đại diện của 16 dòng họ là:
 1-Họ Bùi
  2-Họ Đỗ
  3-Họ Đặng
  4- Họ Đàm
  5- Họ Giang
  6- Họ Hồ
  7- Họ Hà
  8- Họ Hoàng
  9- Họ Khuất
  10- Họ Lê
  11- Họ Nguyễn
  12- Họ Sĩ
  13- Họ Trần
  14- Họ Trương
  15- Họ Trịnh
  16- Họ Vũ.
Cuộc họp do KS Vũ Mạnh Hà và TS Trần Mạnh Quảng  chủ trì,  nhằm triển khai phương hướng làm việc của Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ Việt Nam trong thời gian tới. Cuộc họp đã thông qua 20 nội dung công việc do Ban trù bị đề xuất, trong đó có nhiều nội dung đáng chú ý sau:
-         Hàng năm, trước tết Nguyên đán các vị trong Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ sẽ thắp hương tưởng niệm cụ Song Tùng, cụ Đỗ Tòng là những vị đã sang lập ra Ban liên lạc các dòng họ tại nhà riêng.
Dự kiến 03 tháng một lần Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ Việt Nam sẽ họp tại trụ sở dòng họ mình để bàn sinh hoạt.
-     Các dòng họ Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ  có nhiệm vụ cung cấp tư liệu về hoạt động của dòng Họ mình cho các vị thành viên trong Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ Việt Nam.
  
-         Hội đồng các dòng họ Chuẩn bị ra đời cuốn Bách khoa toàn thư các dòng họ Việt Nam.
-         Tổ chức thăm các khu Lăng Miếu, Mộ Tổ, di tích lịch sử của các dòng họ Việt Nam.
-         Ra tạp chí Hội đồng các dòng họ Việt Nam.
-     Tổ chức Hội nghị gặp mặt đại biểu các vị đại diện của các dòng họ Việt Nam.
           Các đại biểu đã được tặng bản Thông tin Tinh hoa các dòng họ Việt Nam số ra đầu tiên, và xem mẫu maket giới thiệu về dòng họ mình, sẽ được trưng bầy tại trụ sở Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ.
Ban liên lạc các dòng họ Việt Nam được thành lập năm 1995 theo Quyết định75/Q ĐTC của Hiệp hội CLB UNESCO Việt Nam.
Sau 20 năm hoạt động, với nhiều bước thăng trầm, ngày 15/12/2012, tại trụ sở 
Ban liên lạc các dòng họ Việt Nam, 72 B Thụy Khuê đã có cuộc gặp với sự có mặt của đại diện một số dòng họ, đặc biệt có các ông Vũ Mạnh Hà và ông Trần Mạnh Quảng là hai vị cùng GS Song Tùng thành lập Ban liên lạc các dòng họ Việt Nam năm 1995 và ông Đỗ Ngọc Liên, người tiếp nhận vị trí của PGS Đỗ Tòng trong Ban liên lạc các dòng họ Việt Nam, 
Cuộc họp ngày 15/12/2012 đã nhất trí tiến cử 07 vị vào Ban trù bị là các ông Vũ Mạnh Hà, Trần Mạnh Quảng, Đỗ Ngọc Liên, Đỗ Đình Dương, Trần Anh Vinh, Đỗ Quang Hòa, Đỗ Tiến Địnhđ tổ chức cuộc họp thành lập Ban liên lạc Hội đồng các dòng họ Việt Nam. Cuộc họp hôm nay là tiếp nối, triển khai các nội dung công việc do ban trù bị đã chuẩn bị thời gian qua.
 Tin Đỗ Quang
 
 

 
  
 
  

Làm Gia Phả, Thiết Kế Gia Phả Phả Đồ Dòng Họ


Mr Sơn: 0936.375.511

Cảm ơn các bạn.

Cách dựng gia phả, Làm Gia Phả, Thiết Kế Gia Phả, Phả Đồ Dòng Họ

Làm Gia Phả, Thiết Kế Gia Phả, Phả Đồ Dòng Họ

Bài viết này được sưu tầm từ:
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH GIA PHẢ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 

Các tác giả:
VÕ NGỌC AN
VÕ VĂN SỔ
PHAN KIM DUNG
NGUYỄN HỮU
TRẦN KIM XUYẾN 
Nghiên cứu gia phả là khoa học
Thực hành gia phả là thiêng liêng
Thiết kế gia phả hoàn chỉnh

LỜI NÓI ĐẦU
Xuất phát từ việc nghiên cứu các bộ gia phả cổ, bỏ các quan điểm lỗi thời, đưa vào những quan điểm mới, tiến bộ cùng với những kinh nghiệm của 15 năm dựng phả cho các dòng họ, nhóm tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả thành phố Hồ Chí Minh đã đúc kết được những nguyên tắc cơ bản từ thực tiển đi dựng phả cho các dòng họ và từ cácbài giảng ở các lớp tập huấn về gia phả, làm rõ thêm các vấn đề gia đình - dòng họ; cùng với những kinh nghiệm thực tiển được chọn lọc để đưa vào sách.
Trong tập sách này, ban biên soạn đã đưa vào một phần nội dung của một bộ gia phả, cùng với hai bài viết có tính tham khảo nhằm khái quát các vấn đề về gia phả đối với nền văn hóa nước nhà.
Chúng tôi mong cuốn sách dễ đọc, dễ hiểu này sẽ đóng góp phần nào vào vốn hiểu biết của mọi người và giúp ích cho những ai đang muốn dựng bộ gia phả cho dòng họ mình.
Vì đây là lần đầu tiên chúng tôi biên soạn sách trong lĩnh vực nầy nên khó tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm – mong được các bạn đọc góp ý.
Thân ái,
Nhóm tác giả.
PHẦN MỞ ĐẦU 
GIA PHẢ ĐƠN GIẢN CÓ KHÁC VỚI GIA PHẢ HOÀN CHỈNH? 

     Gia phả giản đơn và gia phả hoàn chỉnh đều là lịch sử dòng họ, song loại thứ nhất viết đơn giản nhằm chỉ ghi sơ lược phần phả hệ, còn các phần khác rất quan trọng như phả ký, ngoại phả và phụ khảo thì không có, hoặc có thì chỉ ghi một cách đại khái, tóm lược. Gia phả hoàn chỉnh thì ghi kỷ, toàn diện, phản ánh đầy đủ, trung thực thực thể dòng họ. 
Ta biết: Nước có sử, nhà có phả.
Lịch sử của đất nước ghi rõ từng thời kỳ với những con người, sự việc của nước nhà; còn gia phả tức sử của một dòng họ thì ghi những việc thuộc dòng họ ấy, bắt đầu từ ông / bà tổ phụ mẫu, người mà những người đang sống biết được, ghi đầy đủ về tổ quán của ông /bà tổ ấy cho đến ngày nay; ghi các thành viên (hậu duệ) của dòng họ, thứ thế (đời), ngày sanh, ngày mất, ghi hành trạng của họ; ghi phả đồ, ngoại phả và phụ khảo.
Đất nước trong giai đoạn không có sử gọi là huyền sử. Nhà không có phả gọi là huyền phả, tức tổ tiên, truyền thống dòng họ, con người, sự việc ở đây chỉ dựa vào ký ức và truyền khẩu, do vậy lâu ngày bị mai một. Có gia phả, mọi việc sẽ rõ ràng, chính xác, bền vững, khả năng lưu truyền mạnh mẽ, mau lẹ và đi xa hơn. Người “mất gốc”, không biết mình do ai sinh ra và gốc gác ở đâu, đây là hoàn cảnh đáng thương cô độc và quạnh quẽ. Người có gia phả sẽ tự tin, tự hào về truyền thống tốt đẹp, sáng lạng của dòng họ mình để củng cố niềm tin, vững bước đi lên trong mọi tình huống.  
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng” trong đó bao hàm các dòng họ cũng là những dòng họ có những phẩm chất tốt đẹp; những cá nhân thoái hóa, biến chất, làm sai quấy thuộc về cá biệt.
Người Việt Nam ta có câu: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”, thực tế dựng gia phả lâu nay, chúng ta đều thấy câu nói trên là đúng! Có gia phả, con cháu sẽ nắm chắc ngày giỗ ông bà, không cưới gả với người trong họ, nắm rõ thứ thế để trong giao tiếp, việc thưa gởi, tôn ti sẽ rõ ràng.

PHẦN HAI 
GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ VÀ GIA PHẢ LÀ GÌ?

Gia đình:
Là một thiết chế xã hội gồm những thành viên khác giới thông qua hôn nhân mà có và qua gia đình để thực hiện các chức năng sinh đẻ, kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng …
Dòng họ là một thiết chế xã hội cổ truyền, gồm nhiều gia đình cùng huyết thống, có từ lâu ở nước ta. Họ của các dân tộc không giống nhau do điều kiện lịch sử, kinh tề, xã hội, tập quán khác nhau. 
Khi có con cái thì các thành viên liên kết nhau bằng các quan hệ hôn nhân và di truyền, Hôn nhân là ngẫu nhiên, di truyền là tất yếu. Gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội.
Về hôn nhân:
Quần hôn (cha mẹ chung) và hôn nhân cá thể. Có gia đình mẫu hệ, gia đình phụ hệ, tiểu gia đình (hai thế hệ) và đại gia đình (ba thế hệ trở lên). Tiểu gia dình vừa là đơn vị kinh tế vừa là tế bào xã hội.
Từ khi chuyển qua chế độ phụ quyền có sự bất bình đẳng nam nữ. Xã hội có giai cấp, sự bất bình đẳng nầy càng nặng nề, phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, và yêu cầu phải được giải phóng. Hiện nay có sự quan hệ tình dục không cần hôn nhân, không xây dựng gia đình, nguy cơ đồng tính luyến ái, bịnh AIDS, sinh con theo phương pháp “vô tính”, theo quan điểm chúng tôi, là vi phạm đạo đức.
Lành mạnh hóa gia đình gắn với lành mạnh hóa dòng họ, xây dựng gia đình văn hóa gắn với việc xây dựng dòng họ văn hóa. Kế hoạch hóa gia đình là một quốc sách. 
Luât Hôn nhân và Gia đình (1986), luật Dân sự, luật Bảo vệ Trẻ em là những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng gia đình – dòng họ kiểu mới: “Tiến bộ - một vợ một chồng - nam  nữ bình đẳng- bảo đảm hạnh phúc con cái”. Ta nêu thêm: “Kính trọng, tôn thờ tổ tiên và tạo phúc lâu dài!”
Dựng gia phả, phục hồi ngành gia phả là biện pháp tích cực góp phần xây dựng gia đình - dòng họ văn hóa, phải nâng nó lên cho đúng tầm với xã hội ngày nay. 
Dòng họ:
Một ít dân tộc Việt Nam là theo họ mẹ, còn hầu hết theo họ cha. Người cùng một họ, có vị tổ chung gọi là “thần chủ tổ tiên”. Một ít trường hợp là sống tập trung, đa số các gia đình cư trú xen với các gia đình, dòng họ khác trong một xóm ấp. Đây cũng là tổ quán của dòng họ..
Dòng họ không phải là đơn vị kinh tế, tuy nhiên dòng họ có phần ruộng, gọi là ruộng hương hỏa, ruộng ky. Có nơi có nhà thờ họ chung. Người ba đời trong họ không được lấy nhau, (trừ  triều Trần có tập tục nội hôn, cho lấy nhau để bảo vệ ngai vàng)
Dòng họ có nghĩa vụ đoàn kết, tương trợ nhau và có nghĩa vụ thờ phụng tổ tiên mình. 
Họ tộc có nhiều Chi, Phái, Tiểu chi, có Trưởng họ. Người con trưởng của Chi trưởng làm trưởng họ, nếu chết, người con  trưởng chi kế thay.
Mỗi họ có nhà thờ họ, nhà thờ chung gọi là từ đường, nhà thờ tổ. Họ lớn có nhiều chi, mỗi chi có nhà thờ chi. Cũng có nhiều họ không có nhà thờ. Hằng năm có một ngày giỗ tổ, thường gọi là ngày giỗ họ, giỗ tổ... 
Mỗi họ có hoặc không có gia phả, tộc phả. Hiện nay đang có phong trào rất quí là đi tìm, kết nối nhận họ và dựng phả ở từng dòng họ, chi họ, với mục đích vĩnh tồn tôn thống, giáo dục truyền thống gia đình – dòng họ, Chúng ta kiến nghị với Nhà nước, ngành văn hóa, ủng hộ phong trào nầy một cách tích cực, mạnh mẽ hơn nữa..
Làm gia phả trước hết phải hiểu thấu đáo dòng họ. 
Các họ ở Việt Nam hiện nay:
Chế, Lang, Man, Thiên, Ôn, Ông, Ma…gốc Chăm; Danh, Thạch, Sơn …gốc Campuchia; Duôn, Du, Dham, Nie từ Êdê. Hiện nay ta chưa có thống kê đầy đủ, song có thể nói có trên 300 họ của Việt Nam, hay hơn nữa.
Họ Việt Nam có từ thời cổ. 
Việc đặt tên, chữ lót:
- Húy (tên đẻ): tên cha mẹ đặt để ghi vào sổ sách, gia phả, con cái không được gọi.
- Thụy (hèm): khi chết do vua đặt hoặc do người trước khi chết dặn đặt.
- Hiệu: tên riêng tự chọn.
- Tự: tên theo tập quán từng vùng. Tên tước do vua ban..
- Bí danh: do đi kháng chiến đặt. 
Khái niệm gia phả là gì?
Gia phả là quyển sách, quyển tập ghi chép tên tuổi, kỷ sự (tiểu sử thu gọn), ghi ngày sanh, ngày tử, vị trí phần mộ và ngày lập mộ (đã chết)…của từng người trong họ, theo thứ tự các đời.
Từ điển Hán-Việt Đào Duy Anh định nghĩa gia phả là: “Sách ghi thế hệ trong họ và lịch sử tổ tiên”.
Gia phả xuất hiện ở phương Đông và phương Tây từ xưa. Trung Quốc: thời Chiến Quốc với quyển “Thế bản”. Thời Ngụy, thời Tần phát triển mạnh. Việt Nam: năm 1026, vua Lý Thái Tổ ra lịnh soạn Ngọc điệp (Phả Vua). Các tư gia, thế gia vọng tộc cũng biên soạn gia phả.
Nội dung gia phả gồm có:
Chính phả: có phả ký, phả hệ và phả đồ (nội dung nói ở phần sau).
Ngoại phả: ghi nhà thờ tổ, việc cúng bái, văn khấn, ghi khu mộ, ghi danh sách học vị các thành viên đỗ đạt, ghi tiểu sử một số thành viên nổi bật, ghi quan hệ hôn nhân cưới gả với dòng họ nào….
Phụ khảo: ghi địa chí xóm ấp, đình miếu, chợ búa, bến đò….
Nghiên cứu gia phả là khoa học, thực hành gia phả là thiêng liêng. Phải công phu, nghiêm túc trong việc dựng phả. Gia phả là tư liệu quí giá cho dòng họ, nhà sử học, dân tộc học.  

PHẦN BA 
BỐ CỤC HỢP LÝ CỦA BỘ GIA PHẢ 

Biên soạn bộ gia phả được chia ra từng bước sau
● Cách đặt tựa và cách viết lời tựa: Không nên đặt tựa chữ Hán-Việt, cũng đừng đặt như “Võ tộc thế phả”. Tựa của quyển gia phả gồm hai phần chính: phần trên là tên dòng họ ta đang dựng, phần dưới là địa danh hành chánh đương thời, ghi kỷ từ ấp hoặc thôn, xã, huyện và tỉnh hoặc thành phố.
      Thí dụ:                 
GIA PHẢ HỌ VÕ
Ấp 1, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi,
Thành phố. Hồ Chí Minh 

Với tựa trên, người tìm sẽ dễ dàng, không lầm lẫn. Những tên xóm thôn trong quá trình lịch sử đã qua thì sẽ đưa vào phần phả ký. 
● Bài nói đầu: Phần nhiều do dòng họ viết hoặc ta viết theo sự ủy nhiệm của dòng họ. Bắt đầu nêu mục đích, nguyên nhân, lý do ta làm phả; tiếp theo nêu diễn tiến quá trình thực hiện, cùng ai làm, làm và đạt kết quả các phần theo bố cục ra sao. Nêu ưu khuyết, kêu gọi lớp hậu duệ bổ cập. Lời cảm ơn, ngày tháng viết, và tên họ những người chủ trì. Câu văn cần súc tích, ngắn gọn.
Phần chính phả: Gồm phả ký, phả hệ và phả đồ.
Phả ký: Phả ký là lịch sử tổng hợp, toàn diện, chi tiết của dòng họ (thực tế là của một chi họ), viết theo lối viết sử, trong sáng, gãy gọn, dễ hiểu; cần nắm chắc các thuật ngữ chuyên ngành gia phả.
Lúc ghi chép cần tôn trọng hệ thống ký ức và truyền miêng của người trong họ. Mỗi họ, khi tiếp xúc sâu sẽ phát hiện được một vài người am hiểu, minh mẫn. Cách hỏi, cách phỏng vấn phải theo trình tự, hệ thống, từng loại việc, từng người. Phải tới từng chi, từng hộ để hỏi, quan sát.
Hệ thống mồ mả, bài vị, văn bản tương phân ruộng đất, sổ bộ đời, địa bạ, sách “Đăng Khoa Lục”, tự điển Nhân vật, các loại bằng khen, giấy khen, giấy chứng nhận “Mẹ Việt Nam anh hùng”… là nguồn bổ sung quí cho ta.
Phả ký là bài văn khó viết nhứt!
Bài phả ký phải đạt mục đích, yêu cầu:
Phải phản ánh toàn điện lịch sử dòng họ từ khởi thủy đến nay; xác định rõ tính ưu việt của dòng họ, đây là quan điểm đúng đắng và chỉ ra phương hướng xây dựng dòng họ văn hóa.  
Do đó, để viết phả ký đầy đủ, cần phải đi thực tế (đi điền dã), trực tiếp khảo sát, sưu tra đầy đủ; liên hệ thật sâu từng thời kỳ lịch sử ứng với tùng đời trong họ; phải quán triệt quan điểm chức năng, nhiệm vụ gia đình xã hội chủ nghĩa, phải vận dụng kiến thức sẵn có; phải nhẫn nại, kiên trì, nghiêm túc, khi chấp bút, sau cùng là giọng văn trong sáng, dễ đọc…
Trong trường hợp dòng họ có gia phả gốc, viết bằng chữ Hán chắng hạn, ta dịch ra Quốc ngữ và đưa vào thành một phần của phả ký, sau đó là phần kế tục của các đời tiếp theo..
Nội dung họp lý gổm: Phần trên nêu nội dung, ý nghĩa, sự tác động của gia phả trong đời sống dòng họ; tiếp theo ta nêu sự phát tích dòng họ; vị tổ  đời một, vị tổ khai cơ nêu tiểu sử và đây chính là người sản sinh ra dòng họ; tiếp theo nêu vị trí tổ quán với cách thức nêu tuần tự từ địa chí về xóm ấp,  địa lý tự nhiên rồi nêu tiếp về lịch sử xóm ấp, lịch sử các dòng họ sống chung; rồi viết về đình, miếu… 
Đi sâu hơn ta nêu gia đình – dòng họ là nơi “tái sản xuất ra con người”, nơi con cháu hậu duệ các đơời sinh ra, để duy trì dòng giống, nâng cao trí lực, thể lực, đảm bảo tái sản xuất cho lao động xã hội. Ở đây ta có dịp thống kê từng chi đã sanh ra bao nhiêu nam, nữ; đã tổ chức cưới gả bao nhiêu họ khác với hai qui luật cơ bản là hôn nhơn và di truyền.. 
Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống cho từng gia đình trong họ: Thủơ ban sơ, các vị tiền hiền đến bám đất khai canh, trải qua các đời đã từng đảm đương kinh doanh các nghề ra sao.  
Chúc năng giáo dục: Giáo dục tri thức, kinh nghiệm, đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách và thẩm mỹ, ý thức cộng đồng. Phương pháp giáo dục đa dạng, chủ yếu là nêu gương,, thuyết phục, lấy gia phong, gia đạo để giáo dục, tự giáo dục. Ta chú ý chủ thể là các bậc ông bà, cha mẹ 
Chức năng thỏa mản nhu cầu tâm – sinh lý, tình cảm: Ở đây, những vấn đề về giới tính, về giới, về thế hệ, những sự mệt mõi trong lao động, những căng thẳng trong chiến đấu, những niềm vui cẩn sẻ chia. Gia đình – dòng họ là nơi có vai trò giải quyết, bằng vị thế hoặc ông bà, hoặc cha mẹ, hoặc anh chị, trong đó cần chú ý vai trò những bà mẹ. 
Nhìn qua tổng thể dòng họ, chúng ta phải  mô tả cho được vai trò của dòng họ trong lịch sử ở các khía cạnh: qua hôn nhân và di truyền đã sản sinh ra đời kế tiếp nối dõi tông đường, là dòng họ với truyền thống lao động, sản xuất, bám đất giữ làng, xây dựng sự nghiệp, là dòng họ yêu nước, yêu quê hương, là dòng họ với truyền thống văn hóa.
Tính chất, đặc điểm ưu việt của dòng họ: Đây là sự đánh gia khái quát những tính chất ưu việt các mặt đã nêu. Phải quan sát, khái quát một cách sắc bén, nêu đúng bản chất dòng họ. Có thể suy nghĩ và nêu sau cùng sau khi đã chiêm nhiệm dòng họ. Những nhược đểm, khiếm khuyết ta vẫn có thể nêu để rút kinh nghiệm trong họ, hoặc là chưa nêu chứ nguyên tắc không được làm sai lệch lịch sử dòng họ. 
Sau cùng là nêu phương hướng xây dựng dòng họ văn hóa với những tiêu chí của Đảng và  Nhà nước ta đã chỉ ra và truyền thống dòng họ Việt Nam đã xây dựng. “Dân giàu nước mạnh – Dòng họ trường tồn – Gia đình phúc đức” là mục tiêu tồn tại của dòng họ. Gia đình Việt Nam, trên cơ sở “quan hệ bình đẳng – thương yêu – có trách nhiệm – cùng chia sẻ công việc”: 
     ● Phương pháp viết bài phả ký:
Sưu tầm tài liệu bắt đầu bằng một chuyến đi điền dã. Đây là công việc vất vả, phải đi xa và đi nhiều nơi trong dòng họ để hỏi, phỏng vấn, lấy thông tin trong các bậc lão thành hoặc người am hiểu trong họ về tiểu sử ông bà tổ, về nhà thờ tổ; khảo sát mồ mả, tìm hiểu di chúc, giấy tờ đất đai hương hỏa; quan sát địa lý xóm ấp, đình chùa, miếu mạo…
Phỏng vấn phải khéo léo, với hình thức linh hoạt vì hỏi không khéo người ta không nói, hỏi dồn dập người lớn tuổi bối rối quên mất. Có khi phải đi lại nhiều lần, vì không gặp đối tượng. Nói chung là phải kiên trì…
Sau chuyến đi điền dã, ta phải vào kho lưu trữ quốc gia, thư viên hoặc sở địa chính, tư pháp, công an…để có thêm tư liệu về đất đai, nhân thân, di chúc, hộ tịch.  
● Tổng hợp và xử lý tư liệu, hoàn tất bài phả ký:  
Sắp xếp tư liệu theo thứ tự thời gian và theo từng loại. Dùng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để sử dụng thông tin chính xác nhất. Cần giải quyết những mâu thuẫn trong lời kể.
Bắt đầu công việc chấp bút. Trước tiên ta lập đề cương, dàn bài chi tiết (như trên), rồi dùng thể văn trần thuật, tường thuật, miêu tả, phân tích và phải cân nhắc xoáy vào trọng tâm, không để lạc đề, không cương điệu, ca ngợi quá sự thật; tôn trọng tính khoa học nhưng không đi sâu nghiên cứu làm bài viết khô khan, ngán đọc
Các mặt tích cực và nhược điểm của gia đình phải được tôn trọng, chưa nói chứ không được nói khác đi. Với bài phả ký đòi hỏi trình độ hiểu biết về lịch sử, địa lý, dân tộc học của người đi dựng phả. 
 Cách thực hiện phả hệ và phả đồ:  
Phả hệ là một nội dung chính của bộ gia phả, được sắp xếp sau phần phả ký, trong đó ghi tất cả bà con dòng họ (nội) của gia phả tùy theo thực tế tìm hiểu về trực hệ và bàng hệ dòng họ. Tôn trọng nguyên tắc “đích thứ – trên dưới”. Trình bày theo chiều ngang, chiều dọc hoặc kết hợp chiều ngang và chiều dọc. Ở mỗi chiều, chi trưởng, đời thứ nhứt, con cả ghi trước, chi kế, đời kế, con kế ghi sau cho tới đời hiện nay. Cũng giống như việc ghi chép lịch sử, phả hệ phải trung thực, khách quan, toàn diện gồm khung tên họ, kỷ sự (tiểu sử) và các con. 
- Phương pháp theo chiều ngang: Là trình bày cá nhân thành viên dòng họ theo từng đời, hết đời 1 sang đời 2, đời 3, cho đến đời hiện tại. Ưu điểm của phương pháp là giúp ta định vị được cá nhân thành viên trong dòng họ thuộc đời nào một cách dễ dàng để từ đó  nhận ra vai vế của từng người. Tuy nhiên gia phả với qui mô lớn, phương pháp nầy khó theo dõi để nắm chi tiết từng chi, nhánh, hệ nào đó  của gia phả.. Vì vậy, phương pháp nầy chỉ phù hợp với gia phả có qui mô nhỏ (ít đời, tổ đời 1 sinh ít con) 
- Phương pháp theo chiều dọc: Là phương pháp trình bày một cá nhân thành viên và tiếp theo đó là con cái trực hệ của họ. Thí dụ ông A có 3 con là B1, B2và B3, về B1 ông nầy có  có con là C1, C2 và C3, kế tiếp ghi về ông C1 có các con là D1, D2, D3…cho đến cuối. Phương pháp nầy có hiệu quả khi cá nhân từng đời ít con cái (cá nhân đông con, phương pháp nầy sẽ tạo ra manh múng).                                                                                                                             
- Phương pháp tổng hợp: Kết hợp cách trình bảy ngang và dọc. Đây là sự cắt dọc phả hệ ra thành từng phần nhỏ, ở phần nhỏ ta trình bày chúng theo chiều ngang. Những gia phả qui mô lớn, bố cục nội dung theo từng cụm, rất dễ theo dõi.
Có thể đưa ra mẫu cấu trúc cơ bản của phả hệ, mẫu nầy áp dụng cho cả ba phương pháp (xem mẫu trình bày sau). Cấu trúc mẫu nầy  tuần tự như sau: tiêu đề phụ là dòng chữ ĐỜI I  (hoặc II,  III); tiêu đề chính là dòng chữ: CÁC CON ÔNG….VÀ BÀ….
Tiếp theo là những người con của ông bà như đã nêu ở tiêu đề chính, mỗi người được đặt trong khung hình chữ nhật (là độc thân), hoặc trong hình chữ nhật được ngăn làm hai (là người có gia đình).
Theo qui định, ở phía tay trái là ô để ghi người con của ông bà đó (là người của dòng họ và ở phía tay phải để ghi vợ hoặc chồng của người có tên ở ô tay trái.
Nội dung trong từng ô nầy với những loại thông tin giống nhau, mỗi thông tin được ghi một dòng gồm: họ và tên, năm sanh và năm mất (nếu đã qua đời), ngày giỗ (tất cả lấy ngày âm lịch), mộ (với người qua đời). Ví dụ:
2. NGUYỄN VĂN TÂM
(1920-1985)
Giỗ: 25-8 Âm lịch
Mộ: Xã An Nhơn
TRẦN THỊ BÍCH
(1923-1988)
Giỗ: 16-2 Âm lịch
Mộ: Xã An Nhơn
(Trường hợp có nhiều vợ hoặc chồng thì trình bày tiếp xuống dưới cho cân đối) 
Nội dung tiếp theo sau, bên dưới vuông chữ nhật nêu trên, gọi là kỷ sự. Đó là những thông tin về các thành viên nói trên và con cái của họ. Tùy đặc điểm hành trạng cá nhân, có thể chỉ năm ba dòng. Cũng có thể nhiều hơn, nhưng không nên biến nó thành một tiểu sử nhân vật, hay một bản lý lịch dài.
Những thông tin tối  thiểu dành cho cá nhân nầy: ngày tháng năm sinh,, quê quán, tên thường gọi, bí danh, bút danh nếu có. Tóm tắt lịch sử bản thân. Nếu qua đời, cần nêu lý do qua đời, mộ chôn ở đâu, ngày giỗ, người lo giỗ và những chi tiết khác như tuổi ta (âm lịch), sự khác nhau giữa ngày, tháng năm sinh thật so với giấy tờ hộ tịch, quá trình di dời, chuyển đổi mộ phần. 
Cuối cùng là kể tên những người con, nếu con của những người nầy có những người con thuộc đời hiện tại (hoặc thuộc đời cháu ngoại cuối cùng mà gia phả đề cập) thì có thể nói gộp phần kỷ sự của họ và kể tên những người con của họ trong phần nầy    
● Phương pháp tiến hành: Đi điền dã.  
Đặc điểm là đa số các dòng họ không có gia phả cổ (gia phả gốc), lần đầu xây dựng bộ gia phả, những thông tin cho nội dung phả hệ, chủ yếu dựa vào ký ức và thực trạng, người sống và mồ mả. Vì vậy, công tác điền dã rất quan trọng, gần như là công việc chủ yếu của người thực hiện gia phả.
Qui trình rất đa dạng, phong phú với những bài học kinh nghiệm. Lời khuyên: cố gắng ghi kỷ một lượt để khỏi đi lại rất phiền.
Các hình thức thu thập thông tin khác: có hai hình thức chủ yếu là mẫu khảo sát phả hệ và việc tra cứu các thông tin cần thiết. 
● Các loại Phả đồ 
Phả đồ có thể vẽ theo bốn dạng khác nhau: Sơ đồ, Vòng tròn đồng tâm, Cây phả đồ và dạng các đường kẻ dọc. Phả đồ chỉ ghi tên những cá nhân là nội tộc, nói cách khác, đó là những người có thiên chức duy trì nòi giống của dòng họ mình, vì vậy trong phả đồ không ghi tên những đứa con của các con gái. Đây không phải quan điểm trọng nam khinh nữ, mà những người con của các con gái mang họ của chồng đã thuộc dòng họ khác rồi. Như thế, phả đồ không phải là bảng tóm tắt phả hệ.
Thông thường, một gia phả chỉ có một phả hệ, trong những trường hợp đặc biệt, dí dụ gia phả quá nhiều đời, không thể thể hiện trong một bản vẽ, ngươi ta phải chia ra vẽ từng chi một, mỗi chi một phả đồ. Cũng có trường hợp gia đình chỉ cần phả đồ của một vài thế hệ nào đó, ta cũng vẽ được, song đó là ngoại lệ. 
Các loại phả đồ: Loại sơ đồ đạt chuẩn trình bày bằng máy vi tính không phải ai cũng thực hiên được. Ở đây chỉ giới thiệu phương pháp vẽ một sơ đồ đạt yêu cầu nội dung bằng cách vẽ trên giấy. Sơ đồ cũng tính từ trái sang phải để về thứ, từ trên xuống dưới chỉ về đời (thế hệ).
Ba loại Phả đồ sau xin xem phần các bài mẫu 
● Ngoại phả: Các phần trên đã nêu là chính phả. Phần tiếp sau đây là ngoại phả. Theo Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, ngoại phả là “phần phụ của gia phả, gồm có nhà thờ, kỵ điền v..v.”. Theo ý của định nghĩa trên, ta có thể thêm vào các phần như hành trạng của những người nổi bậc, bản đồ khu mộ, danh sách những người đổ đạt, quan hệ cưới gả với các họ..v.v. 
● Phụ khảo: Việc giỗ chạp là tập tục tốt, kỷ niệm ngày mất của người thân, có các lễ thức, có văn khấn, có thể làm đơn giản hoặc bề thế nhân có yêu cầu sum họp, quyết định điều quan trọng. Tất cả cần sự nghiêm túc, nhắc lai lịch hành trạng người mình cúng để con cháu nhớ. Nội dung văn khấn do người lớn trong nhà thực hiện, với nhang đèn đàng hoàng, nội dung chủ yếu là cầu mong người chết và tổ tiên phù hộ cho con cháu “bình yên vô sự, tai qua nạn khỏi, làm ăn sung túc…” 
Trước hết khảo về địa chí xóm ấp từ ngày xưa cho đến hiện nay, khảo về nghề truyền thống, mô tả những công trình kiến trúc tiêu biểu như đình, miếu, chợ…
Lập dàn bài cho một bộ gia phả: 
Trước khi dựng bộ gia phả, ta lập dàn bài chi tiết, cấu trúc hợp lý, phù hợp với qui mô, đặc điểm dòng họ.
Phần trên đoạn: Nói mục đích, yêu cầu, vai trò, vị trí của phả trong dòng họ và trong xã hội: +Nuớc có sử nhà có phả, giúp cho con cháu biết rõ lịch sử dòng họ, tự hào truyền thống cha ông, sống xứng đáng với tổ tiên. Cụ thể giúp cho việc quan hệ thưa gởi đúng, ghi nhớ ngày giỗ, cưới hỏi không vi phạm….
Nội dung:  
1. Phả ký:
1.       Tổ phụ và tổ quán
:+ Vị tổ đầu tiên: tiểu sử vị Tổ, lai lịch, hành trạng (Nếu có gia phả cổ thì địch ra chữ Quốc ngữ rồi ghi vào) - Bà tổ: tiểu sử của bà.
+ Tổ quán: Ở đây ta viết về địa lý lịch sử xóm ấp, nơi vị tổ đầu tiên tới khai cơ lập nghiệp, trước tiên nêu tên gọi các giai đoạn lịch sử, ranh giới hành chánh, địa lý sông ngòi, đường sá, chợ, đình chùa. Các dòng họ sống cộng cư. Địa điểm dòng họ mình đang sống, nhà thờ họ, khu mộ.
+  Vẽ bản đồ xóm ấp (theo http://WIKIMAPIA.ORG)
+  Các thế hệ: Theo qui luật hôn nhân, ông tổ sinh ra các chi, phái, hệ số lượng là bao nhiêu, đến nay là mấy đời, tổng số con cháu, hậu duệ, đã cưới, gả với bao nhiêu họ khác.
+  Truyền thống lao động, sản xuất: xác định nghề nghiêp chính nhự nghề nông chẳng hạn: ai, đời nào có tay nghề truyền thống, mô tả chúng; ai kinh doanh buôn bán, ai viên chức.
+ Truyền thống văn hóa: Tín ngưỡng tôn giáo, truyền thống thờ cúng ông bà, chăm lo tạo phúc đuức cho con cháu, lo mồ mả, nhà thờ họ, gia phả
+  Truyền thống yêu nước: bám đất giữ làng, đi bộ đội, hoạt động cách mạng, các cá nhân tiêu biểu
+   Truyền thống xây dựng tổ ấm gia đình
2 Đặc điểm tính chất dòng họ và phương hướng xây dựng dòng họ văn hóa Nêu khái quát những ưu điểm của dòng hô vê la d0o65ng sản xuất, về văn hóa, về lòng yêu nước va đề ra những điều cơ bản  để xạy dững gia đình văn hóa ngày nay.
2. Phả hệ
+   Đời thứ …..Con của ông…..và bà….
+   Khung tên họ: Khung gồm tên chồng và vợ 1, vợ 2. Ghi tên họ, dong kế ghi năm sanh – măm mất theo âm lịch, dòng kế ghi gày giỗ, dòng cuối chi mộ chôn.
Ghi tiều sử hai vị.
Ghi các con theo thứ tự con trưởng, thứ hai, ba đến hết.
Chú ý cách ghi ngang hay ghi dọc phải nhất quán từ đầu.
 3. Phả đồ:
 Phả đồ từng chi và tổng phả đô theo mẫu thường dùng
4.  Ngoại phả 
+  Mô tả các lễ cúng chính và văn khấn. Mô tả nhà thà thờ họ và Hội đồng gia tộc, nếu có.
+   Mô tả các khu mộ: ghi vi trí và ten người theo mộ bia.
+   Danh sách người có học vị.
+   Biểu ghi quan hệ cưới gả.
+   Danh sách ngày giỗ+
+   Tiểu sử nhân vật tiêu biểu.
5. Phụ khảo:

+   Địa chí xóm ấp

+   Đình làng

+   Ngành nghề truyền thống


Trên đây là sưu tầm của chúng tôi về cách lập trọn 1 bộ gia phả của dòng họ - sưu tầm từ: TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH GIA PHẢ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Các bạn đọc xong, nếu có nhu cầu thiết kế gia phả, vui long lien hệ với chúng tôi:
Mr Sơn: 0983.016.279
Cảm ơn các bạn.

Làm Gia Phả, Thiết Kế Gia Phả, Phả Đồ Dòng Họ