NGÔ QUYỀN (897 - 944)

Ngô Quyền (chữ Hán: 吳權; 898–944) là một vị tướng và sau này là vua Việt Nam, là người sáng lập ra nhà Ngô. Năm 938 ông cầm quân đánh tan quân xâm lược Nam Hán tại sông Bạch Đằng, kết thúc 1.000 năm Bắc thuộc của Việt Nam.
Tiểu sử


Ngô Quyền sinh năm 898, mất năm 944 quê ở Đường Lâm, Ba Vì (Hà Tây ngày nay). Ông là con trai của quan mục Đường Lâm là Ngô Mân, sau trở thành bộ tướng và con rể của Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân Dương Đình Nghệ (931 - 937), được giao cai quản Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).

Bối cảnh lịch sử

Từ năm 907 ở Trung Hoa, nhà Đường mất, lần lượt nổi lên là các nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh nhau làm vua. Mỗi nhà được mấy năm, gồm tất cả là 52 năm, gọi là đời Ngũ Quí hay là Ngũ đại.
Năm 911, Lưu Cung làm Nam Bình Vương do nhà Hậu Lương phong cho, kiêm chức Tiết độ sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải, có ý để lấy lại Giao Châu. Được ít lâu nhân có việc bất bình với nhà Hậu Lương, Lưu Cung tự xưng đế, quốc hiệu là Đại Việt. Đến năm Đinh Sửu (917) cải quốc hiệu là Nam Hán.
Năm Quí Mùi (923)[1] Lưu Cung sai tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ (khi đó chấp nhận làm Tiết độ sứ của nhà Hậu Lương tại Giao Châu mà không thần phục nhà Nam Hán), rồi sai Lý Tiến sang làm thứ sử cùng với Lý Khắc Chính giữ Giao Châu.
Năm Tân Mão (931) Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày trước (cha của Khúc Thừa Mỹ) nổi lên, mộ quân đánh đuổi bọn Lý Khắc Chính và Lý Tiến đi, rồi tự xưng làm Tiết độ sứ. Được gần 7 năm, Dương Đình Nghệ bị nha tướng là Kiều Công Tiễn giết hại để cướp quyền.
Sự nghiệp
Trong thời gian cai quản Ái Châu, ông đã đem lại yên vui cho đất Ái Châu, tỏ rõ là người có tài đức.
Năm 938, ông tập hợp lực lượng hào kiệt trong nước tiến ra bắc, hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Sau đó, ông chỉ huy trận Bạch Đằng nổi tiếng, đánh bại quân Nam Hán do Hoằng Thao (có sách viết là Hoằng Tháo) chỉ huy, giết chết Hoằng Thao.
Mùa xuân năm 939, ông xưng là Ngô vương (tức là Tiền Ngô vương), đóng đô ở Cổ Loa(thuộc thành phố Hà Nội ngày nay). Tuy chỉ xưng vương nhưng ông có thể coi là người có công lớn trong việc giành được độc lập cho đất nước sau nghìn năm Bắc thuộc.
Năm 944, ông mất, thọ 47 tuổi. Sử sách gọi ông là Tiền Ngô vương. Sách Thiền Uyển tập anh gọi ông là Ngô Thuận Đế, có lẽ chỉ là cách tôn lên vì đương thời ông chưa từng xưng đế.
Trận Bạch Đằng lịch sử

Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại. Ngô Quyền kéo quân ra thành Đại La tiêu diệt kẻ phản bội. Do lo sợ bị tiêu diệt, Kiều Công Tiễn đã cầu cứu nước Nam Hán. Vua Nam Hán lúc bấy giờ là Lưu Cung cho con trai là Hoằng Tháo kéo quân theo đường thủy sang giúp (thực chất là nhân cơ hội chiếm lấy Giao Châu).
Đầu mùa đông năm 938, Ngô Quyền dẹp xong bọn phản loạn Kiều Công Tiễn và chuẩn bị toàn lực để đối phó với sự xâm lăng của quân Nam Hán.
Vào một ngày cuối đông năm 938, trên sông Bạch Đằng, vùng cửa biển và hạ lưu, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán đã diễn ra ác liệt và kết thúc rất nhanh gọn. Cả một đoàn binh thuyền của địch vừa vượt biển tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng đã bị quân ta dẫn dắt vào trận địa bố trí sẵn và bị tiêu diệt gọn trong một thời gian rất ngắn. Ngô Quyền đã cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng và nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên. Quân giặc thấy quân của ông chỉ có thuyền nhẹ, quân ít tưởng có thể ăn tươi, nuốt sống lên hùng hổ tiến vào. Đợi đến khi thủy triều xuống ông mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra đánh. Thuyền chiến lớn của giặc bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết. Quân giặc thua chạy, còn Hoằng Thao bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ. Vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Hắn kinh hoàng khủng khiếp, đành "thương khóc thu nhặt quân còn lại mà rút lui" (Đại Việt sử ký toàn thư). Từ đó nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược.
Ý nghĩa lịch sử

Chiến thắng Bạch Đằng có thể coi là trận chung kết toàn thắng của dân tộc Việt trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Phải đặt trong bối cảnh Bắc thuộc kéo dài sau 1117 năm (179 TCN - 938) mới thấy hết ý nghĩa lịch sử vĩ đại của nó.


Hơn thế nữa, trong hơn 1000 năm Bắc thuộc đó, kẻ thù của dân tộc Việt là một đế chế lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đang lúc phát triển cao độ, nhất là dưới thời Hán, Đường. Tiếp tục công cuộc bành trướng của Tần Thủy Hoàng, nhà Hán đã chinh phục Bắc Triều Tiên chiếm đất đai các bộ lạc dụ mục phía Bắc, mở rộng lãnh thổ về phía Trung Á, xâm lược các nước Hạ Lang, Điền ở Tây Nam. Đầu thế kỷ thứ 7, nhà Tùy bành trướng mạnh về phía Đông, chinh phục Triều Tiên, Lưu Cầu, Đài Loan, Giao Châu, Lâm Ấp, Tây Đồ Quốc..., nhà Đường mở rộng bành trướng về mọi phía, lập thành một đế chế bao la như Đường Thái Tông đã từng tuyên bố: "Ta đã chinh phục được hơn 200 vương quốc, dẹp yên bốn bề, bọn Di Man ở cõi xa cũng lần lượt về quy phục" (theo Đường thư).
Từ đầu Công nguyên, dân số của đế chế Hán đã lên đến 57 triệu người. Thời gian đó, dân số của Việt Nam chỉ độ một triệu. Sau khi chiếm được Việt Nam, mưu đồ của nhà Hán không phải chỉ dừng lại ở chỗ thủ tiêu chủ quyền quốc gia, bóc lột nhân dân, vơ vét của cả, mà còn tiến tới đồng hóa vĩnh viễn dân tộc Việt, sát nhập đất đai vào Trung Quốc. Chính sách đồng hóa là một đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, đã được thực hiện từ thời Hán và đẩy mạnh tới nhà Đường. Trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam, đây là một trong những thời kỳ vận mạng dân tộc trải qua một thử thách cực kỳ hiểm nghèo.
Ngô Quyền - người anh hùng của chiến thắng Bạch Đằng năm 938 - xứng đáng với danh hiệu là "vị tổ trung hưng" của dân tộc như Phan Bội Châu lần đầu tiên đã nêu lên trongViệt Nam quốc sử khảo.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn. Đó là kỷ nguyên của văn minh Đại Việt, của văn hóa Thăng Long, kỷ nguyên phá Tống, bình Nguyên, đuổi Minh, một kỷ nguyên rực rỡ của các nhà Lý, Trần, Lê. Nhà sử học Ngô Thì Sĩ đã đánh giá: "Trận thắng trên sông Bạch Đằng là cơ sở cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công đời Đinh, Lê, Lý, Trần sau này còn nhờ vào uy danh lẫm liệt ấy để lại. Trận Bạch Đằng vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lẫy lừng ở một thời bấy giờ mà thôi đâu" (Việt sử tiêu án).

Mấy bà Dương hậu?

Từ trước tới nay, theo thông tin từ chính sử thì Ngô Quyền có người vợ là bà Dương hậu là con gái Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, em gái (hoặc chị) của Dương Bình vương Tam Kha.
Cuốn Lịch sử Việt Nam, tập 1 của Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp năm 1991 còn đề cập tới Càn Lương phu nhân, một "người vợ khác" cũng mang họ Dương của Ngô Quyền, quê ở dòng sông Đáy, qua mấy câu trong Thiên Nam ngữ lục:
Như ai đã hẹn ai đâu
Qua miền Thượng Phúc, tới cầu Ba Trăng
Như vậy là Ngô Quyền được kết luận có hai bà vợ cùng mang họ Dương. Qua thần tích đền An Nhân huyện Chương Mỹ (Hà Tây), bà họ Dương thứ hai quê ở sông Đáy có tên là Dương Phương Lan.
Cuốn Phả hệ họ Ngô Việt Nam do Ban liên lạc họ Ngô Việt Nam soạn cũng căn cứ vào những nguồn tài liệu này khẳng định về thân thế hai bà vợ Ngô vương:
  • Bà Dương Như Ngọc là con gái Dương Đình Nghệ, thân thế của bà xưa nay đã được khẳng định trong sử sách. Theo GS. sử học Lê Văn Lan giải thích trong cuốn Hỏi đáp về lịch sử Việt Nam thì tên Như Ngọc thực ra cũng chỉ là tên do giới "kiếm hiệp" đặt ra vào thế kỷ 20 để phân biệt bà Dương hậu này với bà Dương hậu khác - được đặt tên văn nghệ là Dương Vân Nga.

  • Bà Dương Phương Lan, người con gái bên dòng sông Đáy, gặp Ngô Quyền ở cầu Ba Trăng. Sách Phả hệ họ Ngô Việt Nam còn phỏng đoán hai người con nhỏ của Ngô Quyền là Nam Hưng, Càn Hưng (chính sử có chép tên hai người này) có thể do bà Phương Lan sinh ra. Tuy nhiên, giả thuyết tồn tại "hai bà hoàng hậu cùng mang họ Dương" của Ngô Quyền không vững chắc, nếu cũng căn cứ đoạn sau của sách Thiên Nam ngữ lục. Đoạn sau cho thấy hai bà họ Dương này thực ra là một người.
Theo Thiên Nam ngữ lục:
Sau đoạn mô tả Ngô Quyền và bà họ Dương gặp nhau ở cầu Ba Trăng, tuyệt nhiên Thiên Nam ngữ lục không hề nhắc tới người phụ nữ nào khác của Ngô Quyền. Nhưng Thiên Nam ngữ lục lại chỉ để cho nàng Phương Lan nói với Ngô Quyền rằng "cha nàng họ Dương" mà không nói rõ người đó chính là ông Dương Đình Nghệ. Do đó người đọc vẫn có thể nghi hoặc: có thể ông họ Dương này không phải là Đình Nghệ.
Đến câu 3340 – 3342, khi Ngô Quyền sắp mất, tin dùng Dương Tam Kha vào việc triều chính:
Việc chuyên bày đặt mặc dầu Tam Kha
Với Dương hậu cùng một cha
Ngoài dinh tướng tá, trong nhà anh em

Mấy câu này cho thấy Dương hậu là em Tam Kha, nhưng vẫn có thể khiến người đọc nghi hoặc: có thể đến đây tác giả Thiên Nam ngữ lục mới nhắc tới bà Dương hậu thứ hai ngoài bà Phương Lan, tức bà Như Ngọc con Dương Đình Nghệ.


Nhưng tới câu 3349 – 3352, đoạn Ngô Quyền lâm chung thì không còn phải bàn cãi:
Thôi bèn hồn phách phất phơ
Cầm tay Dương hậu u ơ dặn rằng:

"Thương vì thuở gặp Ba Trăng
Chi phiền cho bỏ đạo hằng nuôi nhau..."


Qua 4 câu này thì chắc chắn bà Dương hậu được vua Ngô cầm tay này là bà Phương Lan, vì đây là người "gặp Ba Trăng". Và bà lại là người em của Tam Kha (qua ba câu phía trên). Như vậy bà Phương Lan và bà Như Ngọc phải là một người, chứ không thể là hai người. Cả chính sử (Đại Việt Sử ký Toàn thư, Việt sử thông giám cương mục...) lẫnThiên Nam ngữ lục đều chỉ nói tới duy nhất một bà Dương hậu của Ngô Quyền chứ không hề nói có người phụ nữ họ Dương nào khác trong đời ông[2].

Hệ lụy của giả thuyết hai bà Dương

Do nổi lên thông tin về việc có tới hai bà hoàng hậu họ Dương của Ngô Quyền, một số tài liệu sách vở gần đây tỏ ra lúng túng trong vấn đề xử lý việc "đứng chung" giữa hai bà này trong cung đình triều Ngô, như: hai bà hòa thuận với nhau không? Trong 4 người con trai của Ngô vương (Xương Ngập, Xương Văn, Nam Hưng, Càn Hưng), ai thuộc về từng bà? Sau này, khi Ngô vương đã mất, còn một dấu hỏi nữa đặt ra là: tại sao cả hai bà thái hậu cùng vốn là nữ tướng "vũ dũng" như vậy mà để cho Dương Tam Kha "hoành hành"? Bà Như Ngọc với Tam Kha là người nhà, nể anh đã đành, còn bà Phương Lan vì sao vẫn không có thái độ cứng rắn?
Khi đã xác định được rằng hai bà họ Dương chỉ là một người, mọi vấn đề trên hoàn toàn có thể được lý giải.
Vậy câu chuyện giữa Ngô Quyền và bà họ Dương có thể được diễn giải như sau: Sau khi cha mất, Ngô Quyền rời quê nhà Đường Lâm vào Ái châu theo Dương Đình Nghệ, giữa đường lại gặp chính con gái ông là nàng Dương thị, em gái Dương Tam Kha, tại cầu Ba Trăng. Hai người quen nhau và yêu nhau từ đó, sau được Dương Đình Nghệ chấp thuận cho lấy nhau. Việc bà Dương vợ Ngô Quyền được lập đền thờ ở vùng sông Đáy, nơi không phải quê hương bà không có gì là bất bình thường.
Sự khác nhau giữa những cái tên Phương Lan và Như Ngọc chỉ là sản phẩm "chế tác" của đời sau (trong đó có một cái tên được đặt tận thế kỷ 20), như trường hợp "tam sao thất bản" giữa những cái tên "Dương Ngọc Vân" và "Dương Vân Nga" của bà hoàng hậu hai triều Đinh, Lê sau này mà thôi. Giáo sư sử học Lê Văn Lan, trong cuốn Lịch sử Việt Nam - hỏi và đáp (2004) đã chỉ rõ rằng: "tên các nhân vật lịch sử trong thần phả tại các đền thờ phần nhiều do các nhà nho soạn vào khoảng từ thế kỷ 17 trở đi và nhiều khả năng cũng chỉ là sản phẩm của sự chế tác từ các nhà nho này mà thôi, nhất là tên các nhân vật nữ".
Như vậy, việc tìm hiểu nguồn gốc những cái tên của các nhân vật lịch sử, xem tên đó được đặt trong hoàn cảnh nào và thời gian đặt, do ai đặt là điều cần thiết khi nghiên cứu lịch sử.
Gia quyến

Ngoài Dương hậu, giai thoại dân gian ghi nhận Tiền Ngô vương còn có một người vợ họ Đỗ, ở Dục Tú, Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Bà họ Đỗ không có con cái.
Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, con cả Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập, trước khi sinh raNgô Xương Xí đã sinh ra Ngô Xương Tỷ (Khuông Việt đại sư) năm 933. Đây là người cháu lớn nhất của Ngô Vương. Từ khoảng cách năm sinh giữa Ngô Quyền (898) và cháu nội Xương Tỷ cùng việc Xương Ngập có dự trận Bạch Đằng năm 938, có thể suy đoán Xương Ngập sinh khoảng năm 915, trước khi Ngô Quyền gặp Dương hậu - con Dương Đình Nghệ. Do đó Xương Ngập là con một người vợ cả của Ngô Quyền, có thể đã mất sớm và không được sử sách nhắc tới.
Sử sách ghi Tiền Ngô vương còn có 2 người con trai nữa là Ngô Nam Hưng và Ngô Càn Hưng. Phả hệ họ Ngô Việt Nam chỉ nhắc tới con cháu của Xương Ngập và Xương Văn mà không nhắc tới con cháu của Nam Hưng và Càn Hưng. Những căn cứ trên cho thấy: Tiền Ngô Vương có 3 người vợ và 4 người con trai. Xương Ngập là con một người vợ đầu (chưa rõ tên tuổi) mất sớm; Xương Văn, Nam Hưng, Càn Hưng đều là con Dương hậu; bà Đỗ thị không có con.
Nhận định
Các nhà sử học Việt Nam thời phong kiến như Lê Văn Hưu (tác giả cuốn Đại Việt sử ký),Phan Phu Tiên (tác giả cuốn Đại Việt sử ký tục biên), Ngô Sĩ Liên đánh giá rất cao công trạng của Ngô Quyền. Trong Đại Việt sử ký toàn thư bản Ngoại kỷ, quyển 5 của Ngô Sĩ Liên đã chép lại lời bình của Lê Văn Hưu về ông như sau:

Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân[3] của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được.

Loạn "Ngũ Đại Thập Quốc" ở phương bắc kéo dài hơn nửa thế kỷ là cơ hội lớn cho Việt Nam thoát khỏi tay phong kiến Trung Hoa. Trung Quốc chia năm xẻ bảy, không đủ sức mạnh duy trì chiến tranh thường trực, tổng lực với phương nam. Trước Ngô Quyền, dù các chính quyền họ Khúc, họ Dương đã xây dựng nền tự chủ nhưng trên danh nghĩa, chức Tiết độ sứ vẫn bao hàm nghĩa là một phiên trấn của "thiên triều" phương bắc, dù không thuộc về Nam Hán liền kề nhưng vẫn "nằm trong tay" của "Ngũ Quý" ở Trung nguyên (nhà Hậu Lương 907-923, nhà Hậu Đường 923-936, nhà Hậu Tấn từ 936).
Thất bại lần thứ hai ở Việt Nam khiến Nam Hán phải bỏ hẳn ý định xâm chiếm, khẳng định sức mạnh của "Tĩnh Hải quân" không sút kém so với các chư hầu trong "Thập quốc" lúc đó. Sau trận Bạch Đằng, Ngô Quyền tự mình xưng vương hiệu, thành lập hẳn một triều đại, có triều đình, quan chức, chính thức xác lập nền độc lập của Việt Nam. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam mà sau này các nhà sử học vẫn gọi ông là "ông tổ phục hưng" cho nền độc lập tự chủ.
Điều kiện khách quan chưa cho phép ông xưng đế và đặt quốc hiệu như hơn 20 năm sau Đinh Tiên Hoàng làm. Chỉ xưng vương cũng là một cách làm khôn khéo, "biết mình biết người" của Ngô Quyền; giống như trước đây Khúc Hạo đã không xưng vương để giữ yên bờ cõi vừa vuột khỏi tay người Bắc, Ngô Quyền không xưng đế khi chưa đủ "thế" và "lực". Kinh nghiệm của những người đi trước và những tấm gương tày liếp của các triều đại phương Bắc thay đổi xoành xoạch lúc đó, sớm dựng chiều đổ khiến ông có sự thận trọng cần thiết. Trong hơn 10 nhà cai trị Việt Nam thế kỷ 10, ông cùng Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn là những người được nhắc tới nhiều nhất.
Chú thích

  1. ^ Có tài liệu ghi năm 930
  2. ^ Truyền thuyết dân gian còn kể về một người con gái họ Đỗ, người Cổ Loa, từng là vợ Ngô Quyền
  3. ^ Đây là cách nói phóng đại, theo sử sách đạo quân này chỉ có 2 vạn người

Tài liệu tham khảo

  • Đại Việt Sử ký Toàn thư
  • Lịch sử Việt Nam, tập 1 – Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Lương Ninh, Hà Văn Tấn, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 1991
  • Thiên Nam ngữ lục – NXB Văn học, 2001
  • Phả hệ họ Ngô Việt Nam – Ban liên lạc họ Ngô Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, 2003

Nguồn từ: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Bài viết được sưu tầm bới nhóm thiết kế, trung tâm dịch vụ gia phả Việt Nam

Chúng tôi chuyên dịch vụ thiết kế gia phả cho các dòng họ Việt nam

Email: Dichvugiapha@gmail.com
Điện thoại: 0936375511

Điêu khắc đình làng

Đình làng, nhất là đình làng ở miền Bắc, là kho tàng hết sức phong phú của điêu khắc Việt Nam trong lịch sử. Điêu khắc cũng tồn tại ở chùa, đền, các kiến trúc tôn giáo khác, nhưng không ở đâu nó được biểu hiện hết mình như ở Đình. Điêu khắc ở đình làng không những là nguồn tài liệu để nghiên cứu lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, mà còn là nguồn tài liệu để nghiên cứu đời sống ngày thường cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam.

Nói điêu khắc đình làng cũng là nói đến nghệ thuật trang trí đình làng. Điêu khắc ở đây là điêu khắc trang trí. Người thợ làm đình chẳng những thành thạo trong việc dựng đình mà còn biết tô điểm cho ngôi đình thêm đẹp. Điêu khắc ở đây do đó gắn liền với kiến trúc. Hầu như trên các thành phần của kiến trúc đình làng đều được các nghệ nhân xưa dùng bàn tay điêu luyện của mình chạm khắc thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao, thu hút sự chú ý của mọi người lúc ghé thăm đình.

Ngay những ngôi đình từ thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XVIII, điêu khắc trang trí đình làng mang đậm tính chất nghệ thuật dân gian. Những nhà điêu khắc vô danh xuất thân từ nông dân đã đưa vào đình làng những hình ảnh gần gũi với cuộc sống thực, hay là cả với giấc mơ của họ, với một phong cách hết sức độc đáo và một tâm hồn hết sức sôi nổi. Khác với những kiến trúc tôn giáo khác, ngay ở những vị trí tôn nghiêm của đình làng, ta cũng có thể gặp hình tượng những đôi trai gái đùa ghẹo nhau hay đang tình tự... Từ thế kỷ XIX, điêu khắc đình làng hầu như không còn những cảnh sinh hoạt dân gian. Từ đây chỉ còn những hình trang trí hoa lá và phổ biến là hình tứ linh (long, ly, quy, phượng). Trong các đình thế kỷ XIX, thường có những bức cửa võng trước điện thờ được chạm trổ khá công phu.

Ở các ngôi đình miền Trung, điêu khắc trang trí không phong phú như các ngôi đình miền Bắc. Có người đã tổng kết về trang trí trên gỗ ở các ngôi đình vùng Thừa Thiên - Huế : "Trong kết cấu gỗ của nội thất tùy quan niệm thẩm mỹ mà dân làng có thể chạm trổ chi tiết đầu rồng, đuôi rồng ở đầu đuôi kèo, chạm hoa và đường chỉ xuyên tâm ở thanh xà và đòn tay. Việc chạm trổ nhiều, thích ứng với các đình có kết cấu vừa phải, thanh tú. Chạm trổ ít, thích ứng với các đình có kết cấu gỗ to lớn, đồ sộ...". Đây cũng là tính chất trang trí nói chung của ngôi đình miền Trung. Nhưng nếu điêu khắc trang trí tên gỗ có giảm sút thì ngược lại, ở các ngôi đình miền Trung lại phát triển hình thức trang trí bằng cách đắp nổi vôi vữa và gắn các mảnh sành sứ lên phần ngoài của kiến trúc. Thường thì ở nóc mái và các đường gờ mái, người ta trang trí hình tứ linh. Ơở hai đầu hồi thường được trang trí hình dơi xòe cánh bằng sành sứ để cầu phúc. Đây là cách trang trí phổ biến đời Nguyễn.

Đình miền Nam cũng có lối trang trí đắp nổi mặt ngoài gần giống đình miền Trung, nhưng điêu khắc trang trí trên gỗ thì cũng có điểm khác biệt. Phần lớn chạm khắc gỗ này đã có từ giữa thế kỷ XIX. Bốn cột đình thường được trang trí hình rồng, nên gọi là "long trụ". Nhiều nơi, long trụ chạm rời bên ngoài ốp vào, nhưng cũng có nơi long trụ được trổ một khối nguyên... Ngoài những cột long trụ đình Nam Bộ thường có các bao lam trước điện thờ, như cửa võng trong các đình miền Bắc, được chạm trổ rất tinh vi, đề tài thường là tứ linh, cá hóa long, rồng, hổ...

Như vậy, điêu khắc trang trí, cùng với kiến trúc đã làm cho đình có những nét riêng trên chiều dài của đất nước.

(- Theo Bộ VHTT -)

Bài viết được sưu tầm bới nhóm thiết kế, trung tâm dịch vụ gia phả Việt Nam

Dịch vụ thiết kế cây gia phả, thiết kế gia phả cho các dòng họ Việt nam

Email: Dichvugiapha@gmail.com
Mr Sơn: 0936375511

Nhà thờ họ, nhà từ đường

Về hình thức kiến trúc, Nhà thờ họ khá gần gũi với kiến trúc nhà ở dân gian. Về công năng, Nhà thờ họ là công trình tín ngưỡng để thờ tổ tiên. Đây là hai yếu tố chính tạo nên phong cách kiến trúc của Nhà thờ họ.
Bên cạnh đó, Nhà thờ họ thuộc sở hữu cá nhân, thường do một dòng họ đứng lên xây dựng, vì vậy mà Nhà thờ họ mang tính cá thể cao chứ không mang nhiều tính cộng đồng như những công trình tín ngưỡng công cộng.Nhà thờ họ có cấu trúc tương tự như nhà ở dân gian của người Việt, chủ yếu là kết cấu khung gỗ với các hình thức kết cấu cơ bản giống nhà ở. Nhà thờ họ thường không được đầu tư lớn (vì là sở hữu cá nhân của từng dòng họ) nên thường có kiến trúc đơn giản, nhỏ bé chứ không rộng lớn, hoành tráng như những công trình tín ngưỡng công cộng.
Thông thường, một Nhà thờ họ điển hình chỉ là một ngôi nhà hình chữ Nhất nằm ngang với hai mái trước và sau theo kiểu thu hồi bít đốc, mái có thể lợp tranh, lá cọ hoặc ngói mũi dân dã (ngói di), quy mô công trình thường từ 3 đến 5 gian.Khu vực đồng bằng Bắc Bộ vẫn được xem là cái nôi của người Việt, vì vậy loại hình kiến trúc Nhà thờ họ cũng ra đời sớm nhất ở khu vực này.
Tuy nhiên hiện nay hầu như không còn những Nhà thờ họ có niên đại sớm. Theo kết quả điều tra của Viện Bảo tồn di tích (thực hiện từ 2003 đến 2009), các Nhà thờ họ còn lại ở đồng bằng Bắc Bộ chỉ có niên đại sớm nhất là từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Một phần do Nhà thờ họ thường không được đầu tư lớn (các cấu kiện khung gỗ nhỏ hơn, yêu cầu đối với vật liệu để làm nhà thờ họ cũng đơn giản hơn) nên độ bền vững thường kém hơn so với những công trình tín ngưỡng công cộng.Phong tục dân gian “Tứ đại mai thần chủ”Đối tượng được thờ trong nhà thờ họ là các vị tổ của dòng họ.
Theo phong tục dân gian: “Tứ đại mai thần chủ” (từ 4 đời thì không phải thờ nữa) nên trong một nhà thờ họ thường chỉ thờ không quá 5 đời tổ. Tuy nhiên cũng không nhất định như vậy, một số dòng họ lớn cũng có thể thờ nhiều hơn 5 đời. Trong Nhà thờ họ, các ban thờ thường được bố trí theo chiều ngang: Ban thờ vị tổ cao nhất bao giờ cũng được đặt tại gian chính giữa, ban thờ các vị tổ thấp hơn được bài trí đăng đối ở các gian hai bên.
Nhà thờ họ thường là công trình chuyên dụng để thờ tổ tiên, song cũng có một số Nhà thờ họ kết hợp hai chức năng: vừa để thờ, vừa để ở (do điều kiện kinh tế của dòng họ). Đối với những Nhà thờ họ kiểu này, việc thờ cúng tổ tiên được bố trí ở các gian giữa, chỗ để ở được bố trí hai bên gian hồi.
Tuy nhiên, đúng theo truyền thống thì Nhà thờ họ thường được xây tách riêng khỏi nhà ở, có thể nằm trên một mảnh đất riêng biệt, có thể nằm trên khuôn viên đất ở của vị trưởng họ. Việc bố trí mặt bằng của Nhà thờ họ phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện này.Chi tiết trang trí cửa chính nhà thờ họ Nguyễn - Cự Đà - Hà NộiĐối với kiểu Nhà thờ họ kết hợp để ở và Nhà thờ họ chung khuôn viên đất ở, việc bố trí mặt bằng sẽ phụ thuộc  khá nhiều vào nhu cầu sinh hoạt của những người sống ở đó. Còn đối với những nhà thờ họ có khuôn viên riêng biệt, việc quy hoạch mặt bằng sẽ dễ dàng hơn và có điều kiện để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về phong thủy. Song dù thế nào đi nữa thì một nguyên tắc cơ bản luôn luôn phải tuân thủ trong bố cục Nhà thờ họ là nguyên tắc đăng đối qua trục thần đạo (trục tưởng tượng đi qua chính giữa nhà thờ).
Nguyên tắc đăng đối này bao trùm trong toàn bộ đồ án thiết kế nhà thờ họ: từ hình khối kiến trúc, trang trí trên kiến trúc, sắp xếp các ban thờ, bài trí nội thất đến bố trí sân vườn cảnh quan phía trước...Hướng và Thế trong phong thủy Nhà thờ họVề mặt phong thủy, có hai yếu tố luôn được quan tâm khi chọn đất xây dựng Nhà thờ họ là hướng đất và thế đất. Hướng đất thường hay được chọn là hướng Nam do đây là hướng “hè mát, đông ấm”, theo đạo Phật thì đây là hướng gắn với điều thiện và hạnh phúc, theo Nho giáo thì đây là hướng của thánh nhân: “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thánh nhân quay mặt về Nam nghe lời tâu của thiên hạ). Người Việt coi tổ tiên của mình như những thánh nhân luôn theo dõi và phù hộ độ trì cho con cháu nên nhà ở cũng thường quay hướng Nam. Tuy nhiên, ngày xưa quan niệm chọn hướng không quá phức tạp như hiện nay, nếu hướng Nam lại ở thế đất xấu thì cũng có thể quay hướng khác.Thế đất cũng là một yếu tố quan trọng để lựa chọn khi xây dựng Nhà thờ họ.
Thế đất tự nhiên được coi là đẹp khi lưng có thế tựa (phía sau cao hơn phía trước), hai bên có thế tỳ “tả Thanh long, hữu Bạch hổ” (thế tay ngai), mặt trước thoáng đãng có dòng lưu thủy từ phải qua trái và có tiền án. Khi thế đất tự nhiên không sẵn có các yếu tố cần thiết đó, người xưa có thể khắc phục bằng cách đào hồ, ao, giếng nước làm điểm tụ thủy; xây bình phong, non bộ làm án; đắp đất trồng cây tạo thế tay ngai…Cũng như các loại hình kiến trúc truyền thống khác, vấn đề trang trí cũng được người xưa rất quan tâm khi xây dựng Nhà thờ họ.
Tuy nhiên, do quy mô đầu tư nhỏ nên trang trí trên kiến trúc Nhà thờ họ thường đơn giản, khiêm tốn hơn so với các công trình kiến trúc tín ngưỡng khác của cộng đồng, đặc biệt là hầu như không có các trang trí bên ngoài công trình hoặc nếu có thì cũng được đơn giản hóa tới mức tối đa. Nếu như trên mái các đình, chùa thường có rồng, phượng, mặt trời, các con giống… được làm cầu kỳ, tinh xảo thì trên mái Nhà thờ họ cùng lắm chỉ có gạch hoa chanh, đấu nắm cơm và những chi tiết trang trí hết sức đơn giản.
Vì sao không chạm rồng 5 móng?Trang trí ở Nhà thờ họ chủ yếu tập trung bên trong công trình và phân thành hai loại chính: Thứ nhất là trang trí trên các cấu kiện kiến trúc (trang trí trên bất động sản), thứ hai là trang trí trên các đồ vật nội thất (trang trí trên động sản). Trang trí trên cấu kiện kiến trúc là những trang trí cố định không thể tháo rời nên thường có cùng phong cách nghệ thuật ở thời kỳ xây dựng, còn các vật dụng nội thất (như bàn thờ, hương án, hạc, lư hương, cửa võng, hoành phi, câu đối…) thường có sự bổ sung, thay đổi theo thời gian nên các trang trí trên mỗi vật dụng có phong cách khác nhau.
Trang trí trên cấu kiện kiến trúc xuất phát từ mục đích vừa làm đẹp vừa làm giảm sự thô mộc, nặng nề của cấu kiện gỗ, song tùy thuộc vào khả năng đầu tư mà mức độ trang trí có thể nhiều, ít khác nhau ở từng Nhà thờ họ. Trang trí trên kiến trúc Nhà thờ họ rất ít dùng hình tượng rồng mà hay sử dụng các hình tượng thuần túy mang tính trang trí (như hình hoa lá, hình kỷ hà…), hoặc các biểu tượng thiêng (như hình vân xoắn, hình đao mác…). Mặc dù vậy, một số nhà thờ của những dòng họ có người làm quan cũng trang trí hình rồng trên kiến trúc, nhưng rất hạn chế và các hình rồng này thường được cách điệu, biến tấu đi (trúc hóa rồng, mai hóa rồng, mây hóa rồng, lá hóa rồng, cá hóa rồng…).Sở dĩ có đặc điểm này là do các Nhà thờ họ truyền thống còn tồn tại đến nay chỉ có niên đại xây dựng từ cuối thế kỷ XVII tới đầu thế kỷ XX, khi mà Nho giáo đã ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân Việt. Theo quan niệm của Nho giáo thì rồng là biểu tượng cho tầng trên, đặc biệt là rồng có 5 móng chân tượng trưng cho Thiên tử.
Nhà thờ họ không phải là nơi thể hiện tính quyền lực, chính vì vậy rất ít sử dụng hình tượng rồng trên kiến trúc. Tuy vậy trên các đồ thờ vẫn thường được chạm rồng do quan niệm thần thánh hóa tổ tiên của người Việt, tất nhiên cũng chỉ được chạm rồng 4 móng mà không được chạm rồng 5 móng.Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, do những biến động của lịch sử mà ảnh hưởng của Nho giáo trong cuộc sống xã hội ngày càng mờ nhạt đi, các chế định xã hội và cộng đồng cũng lỏng lẻo dần trước những trào lưu văn hóa và những nhu cầu mới. Việc xây dựng Nhà thờ họ vì thế cũng không còn tuân thủ chặt chẽ những quan niệm và ước định vốn có mà trở nên  ngày càng đa dạng hơn về quy mô và kiểu thức kiến trúc. Từ giai đoạn này đã xuất hiện những Nhà thờ họ có bố cục mặt bằng phức tạp (chữ Nhị, chữ Đinh, chữ Công, tứ thủy quy đường…) và cả những Nhà thờ họ với các góc đao cong vút.
Cho tới tận ngày nay, nhu cầu xây dựng nhà thờ họ trong xã hội vẫn luôn tồn tại, song nhận thức về “cốt cách” của nhà thờ họ lại khá mơ hồ, thêm vào đó còn bị “nhiễu” bởi những quan niệm và nhu cầu của thời hiện đại. Chính vì vậy đã xuất hiện không ít Nhà thờ họ với phong cách lai tạp, rườm rà mang nặng tính phô trương, đánh mất đi “hồn cốt” của kiến trúc truyền thống Việt nói riêng và bản sắc văn hóa Việt nói chung.
Chắc rằng những điều đáng tiếc đó sẽ không xảy ra nếu trước khi bắt tay xây dựng Nhà thờ cho dòng họ, chúng ta để tâm tìm hiểu và chắt lọc những tinh túy trong suy nghĩ và cách làm của người xưa.
-- Sưu tầm --
Trong không gian các nhà từ đường, không thể thiếu một bức gia phả, một cuốn sổ gia phả dòng tộc.
Các bạn đọc xong nếu có nhu cầu xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn về gia phả.

Dịch vụ thiết kế cây gia phả, thiết kế gia phả cho các dòng họ Việt nam


Email: Dichvugiapha@gmail.com
Mr Sơn: 0936375511

Tổ tiên các vua nhà Trần và các tôn thất tại VN

Tổ tiên các vua nhà Trần và các tôn thất tại VN

Trần Lý (thủy tổ của nhà Trần, con của Trần Hấp),

Trần Thừa (cha vua Thái Tông, được truy tôn là Trần Thái Tổ)

Các thế hệ tông thất khai quốc:

-Trần Tự Khánh
- Trần Thị Dung (hoàng hậu nhà Lý), sau này là Linh Từ quốc mẫu
- Trần Liễu cha của Trần Hưng Đạo,
- Trần Thủ Độ, Thái sư nhà Trần (người có công kiến lập nhà Trần)
- Trần An Quốc, Trần An Bang
- Các tông thất nhà Trần có công lao cho đất nước:
- Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo đại vương - Tiết chế Quốc công)
- Trần Quang Khải Thượng tướng, Thái sư nhà Trần
- Trần Nhật Duật
- Trần Khánh Dư
- Trần Quốc Toản
- Trần Quốc Hiến (Nghiễn) (Con trai của Hưng Đạo Vương)
- Trần Quốc Tảng (Con trai của Hưng Đạo Vương)
- Trần Quốc Uất (Con trai của Hưng Đạo Vương)
- Trần Quốc Hiện (Nghiện) (Con trai của Hưng Đạo Vương)
- Trần Bình Trọng
- Trần Khát Chân (dòng dõi Trần Bình Trọng, người có công giết được Chế Bồng Nga)
- Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tung): người cùng tham gia trong cả 3 lần kháng chiến - chống Nguyên Mông và đặt nền móng cho trường phái Trúc Lâm Yên Tử
- An Tư công chúa (người được gả cho Thoát Hoan để nghị hòa trong tình thế nguy kịch - của nhà Trần)
- Huyền Trân công chúa: người được gả cho vua Chiêm Thành để đổi lấy châu Ô là châu Lý (Rí)
- Trần Nguyên Đán, là người có công lật đổ Dương Nhật Lễ giành ngôi lại cho nhà Trần, có nhiều công trình thơ văn giá trị và là ông ngoại của Nguyễn Trãi.

Các tôn thất nhà Trần khác:
- Trần Bà Liệt, Hoài Đức Vương, con trai của Trần Thừa
- Trần Quốc Khang (anh trai Trần Quốc Tuấn)
- Trần Nhật Hiệu Thái úy, chỉ huy quân Tinh cương của nhà Trần
- Trần Kiện
- Trần Văn Lộng
- Trần Tú Viên
- Trần Lão Thượng vị hầu
- Trần Khắc Hãn công chúa
- Trần Ngạc Thái úy
- Trần Nhật Đôn Trụ quốc, người cùng hợp mưu với Trần Khát Chân trừ khử Hồ Quý Ly bất thành
- Trần Doãn Vũ Thành Vương
- Trần Thị Thiều (Hoàng hậu của Trần Thánh Tông)
===========

Bài viết sưu tầm trên internet

Các bạn đọc xong, nếu có nhu cầu thiết kế gia phả  , vui lòng liên hệ với chúng tôi:

Email: Dichvugiapha@gmail.com
Mr Sơn: 0936375511

Đề tài Quản lý và tra cứu gia phả

 Hiện nay với bánh xe của thời gian với vận tốc không ngừng cùng với vòng quay của trái đất nơi mà con người chúng ta đang sinh sống và tạo dựng chúng ngày càng tươi đẹp và phồn vinh. Trải qua nhiều thế hệ con người đã không ngừng phát triển và tạo dựng nền móng văn minh cho nhân loại. Chúng ta thường nhớ về cha ông ta đã từng một thời dựng nước và giữ nước. Qua bao nhiêu thế kỉ với các giai đoạn xã hội khác nhau, đối với các dòng họ với sự quản lý dòng họ của mình qua tấm GIA PHẢ và được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với sự “Quản lý” bằng tay những dữ liệu, những thông tin về mỗi cá nhân trong dòng họ… Điều này dẫn đến sự khó chịu và rất tốn thời gian khi ta muốn tra cứu thông tin về ai đó trong họ, thật rắc rối rất mất thời gian và khi dòng họ này lại có thêm thành viên mới sinh ra, hoặc dòng họ này lại tìm một người nào đó bị thất lạc. Thì cuốn Gia Phả trên lại trở lên dài rất khó quản lý, rất khó kiểm soát. Điều gây phiền hà nhất ở đây là khi muốn thay đổi thông tin của cá nhân nào đó trong họ thì cuốn Gia Phả đó lại phải viết lại từ đầu, hay là tạo ra cuốn Gia Phả mới. Đây quả là một sự bất tiện không mong muốn. Ngày nay với sự phát triển không ngừng của Công nghệ thông tin chúng tôi đã tìm tòi, học hỏi, thu nhập các thông tin, tài liệu và phát triển phần mềm Quản lý Gia Phả. Phần mềm quản lý GIA PHẢ này nhằm để tra cứu các thông tin về cuốn GIA PHẢ một các nhanh chóng hơn, tiện lợi, chính xác và tiết kiệm thời gian hơn. Chương I: Phân tích yêu cầu người dùng: 1.Khảo sát tình hình: - Về phần chúng tôi trong quá trính khảo sát thực tiễn trên thị trường với đất nước Việt Nam ngày nay cũng như xa xưa ngay trong cuộc sống của chúng ta, các dòng họ lâu đời như : họ Trần, Nguyễn, Lý, Ngô, Đinh,… Mỗi dòng họ được chia làm nhiều chi khác nhau, qua các thế hệ này đến thế hệ khác. Bắt đầu từ người được tìm thấy đầu tiên trong họ và lấy người đàn ông làm gốc cho dòng họ của mình hay người này có quyền được phép cho con cháu về sau lấy đó làm gốc hay còn gọi là “Ông Tổ ” hay “Cụ Tổ ” của họ. Khi người này lập gia đình và có con thì những người con này là đời thứ hai.Và cứ tiếp diễn như vậy khi những người con trong đời thứ hai này lập gia đình thì những người con của họ là đời thứ ba và cứ thế theo đường dài thời gian họ liên tiếp kế thừa từ đời trên xuống dưới. Từ “Ông Tổ ” sẽ lấy đó làm chi gốc và sau đó phân cho các con trưởng nắm giữ chi gốc đó. Nhưng nếu con trưởng này không sinh được người con trai nào thì quyền làm trưởng sẽ do người em trai đảm nhận, và người em trai này lắm giữ luôn chi gốc đó. Vì theo sự suy nghĩ của con người thì Nam mới được phép làm trưởng. Nhưng nếu dòng họ này mà không có con trai ở thế hệ sau thì coi như đó là sự không may và dòng họ này được xếp vào dòng họ bị “thất lạc” hay mất họ. Nếu nhìn bằng con mắt trực quan ta có thể hình dung cả một dòng họ đi từ trên xuống thì có thể sắp xếp theo một dạng cây có nhiều nhánh, các nhánh này chính là các chi mà ta đã nói ở trên. Những nhánh này có chung một gốc đó chính là “Cụ Tổ ”. Và các nhánh này lại được phân ra làm nhiều nhánh con khác nhau. Nếu nhánh gốc mà không có con trai thì cũng như một cành cây chính bị cụt. Nó sẽ được chuyển sang nhánh gần nhất kế bên. Nhánh này sẽ giữ gốc Gia Phả. Ta có thể biểu diễn dòng họ như là một cái cây nhiều nhánh như sau: Đời 1: Đời 2 : Đời 3: Đời 4: Đời 5: Đời N: Hình 1. Cây Gia Phả Trong ví dụ về cây Gia Phả trên thì người cụ tổ là gốc của Phả Hệ. Qui định : + Đàn ông hình vuông. + phụ nữ hình tròn + Những người đã từng làm trưởng(nắm giữ gốc Phả hệ) màu đỏ. Trong cây Gia Phả này hiện tại ta chỉ xét có 5 đời :  Đời 1: Là người lắm vai trò là gốc của dòng họ hay còn gọi là “Cụ Tổ ”, người này sinh ra 5 người con: 3 trai, 2 gái. Con cả và con thứ hai đều là trai. Nên con cả này sẽ làm Trưởng nắm gốc Gia Phả.  Đời 2: Người con trai cả chỉ sinh được một người con gái nên khi người này mất đi con gái của anh ta không thể làm Trưởng khi đó người em trai của anh ta sẽ được phép làm Trưởng và giữ luôn gốc chính và con trai của người này lại là Trưởng. Hay nói một cách khác thì cây Gia Phả này được chuyển nhánh sang nhánh khác. Và cứ như vậy cho đến đời tiếp theo.  Đời 3: đến đời 4, đến đời 5, đến đời thứ N Ta có thể mô tả bằng hình ảnh như sau: Đây là danh sách được In ra theo Chi Hình 2. Danh sách được in theo chi(chỉ gồm con cháu chính trong họ) Trong thực tế do pháp luật Việt Nam đã công nhận trong dòng họ thì thế hệ này và thế hệ sau cứ cách nhau khoảng 5 đời thì được phép kết hôn. Nên theo sự điều tra trung thực của chúng tôi thì con cháu được phép thờ cúng tổ tiên đến đời thứ năm thì có thể thôi và được phép không thờ đến đời thứ 6 nữa. Theo khảo sát hiện trạng thì chúng tôi vẫn thấy đại đa số các dòng họ đều quản lý dòng họ của mình chỉ qua một đến hai cuốn Gia Phả và được người quan trọng trong họ giữ gìn người đó có thể là con Trưởng và cũng có thể là con thứ. Vậy họ quản lý ra cuốn Gia Phả này ra sao? Cũng như chúng ta có thể tưởng tượng ra với một dòng họ có rất nhiều người như vậy sự quản lý thật là rườm rà khi những thông tin ghi trong cuốn Gia Phả lại có vẻ không được thống kê đầy đủ. Và nếu có người mới được sinh ra hay dòng họ này lại tìm được một người bị thất lạc do chiến tranh hay thông tin cá nhân của người nào đó bị sai lệch. Vì thế người giữ cuốn Gia Phả muốn sửa lại thông tin thì cũng phải thống kê lại toàn bộ những thông tin đã có trong Gia Phả. Có những lúc phải vất cả cuốn Gia Phả đó đi để làm cuốn Gia Phả mới. Điều này thật là tốn thời gian và rắc rối cho người nào muốn sao lưu lại cuốn Gia Phả và muốn tìm kiếm thông tin của một ai đó trong họ… Hình 3. Danh sách được in theo chi(Gồm cả con dâu) - Vì vậy trong quá trình khảo sát chúng tôi đã thực sự thấy được tầm quan trọng khi phần mềm này ra đời, nó giúp rất nhiều về mặt thời gian và tính dễ chịu khi chúng ta muốn tra cứu hay quản lý một tấm Gia Phả thiêng liêng của cả họ -Cũng trong quá trình khảo sát thì chúng tôi thấy hiện nay trên thị trường cũng không ít phần mềm Quản Lý và Tra Cứu Gia Phả, một sự tiến bộ cho nền Công Nghệ Thông Tin đánh dấu sự phát triển và phần nào chứng minh được Công Nghệ Thông tin không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Vì thế chúng tôi quyết định đóng góp công sức nhỏ bé của mình và hi vọng sẽ giúp được phần nào cho những người quản lý Gia Pha hay những người muốn tra cứu thông tin nào đó trong Gia Phả 2. Phân tích yêu cầu người dùng:  Về phía người dùng: Qua khảo sát và nghiên cứu chúng tôi có thể nói tóm gọn về đại đa số yêu cầu đơn giản và cũng có yêu cầu phức tạp của người muốn quan tâm đến phần mềm này. Và chúng tôi đã chia hai yêu cầu chính sau: là yêu cầu người tra cứu Gia Phả và yêu cầu của người quản lý Gia Phả. a. Người Tra Cứu : + Tra cứu thông tin dòng họ: Muốn biết dòng họ này hiện tại có bao nhiêu người, bao nhiêu Nam, bao nhiêu nữ, gốc Phả Hệ là ai, những ai đã làm Trưởng trong dòng họ, nguồn gốc của dòng họ này ra sao, đây là đời thứ mấy trong dòng họ, các chi của dòng họ này được phân ra như thế nào, người còn sống và người đã mất thì sao ... + Tra cứu thông tin cá nhân: Muốn biết thông tin về tiểu sử của người này, quê quán hoặc ngày sinh thông qua họ tên hoặc họ tên thông qua ngày sinh. Người này là nam hay nữ, là đời thứ mấy trong họ hay thuộc chi nào trong họ. Có thể biết được người này mất hay chưa mất, xem ngày sinh của họ khi ta không nhớ. Và có thể xem danh sách tên những người trong họ từ đó có thể đặt tên cho con của mình. Người tra cứu này đòi hỏi cần có một phần mềm dễ tra cứu, không rườm rà, tra cứu phải nhanh, thông tin cần biết phải chinh xác. Giao diện phải đẹp dễ sử dụng. b. Người Quản Lý : + Tra cứu thông tin: Yêu cầu này cho thấy người quản lý cũng chính là người Tra Cứu, họ cũng phải biết thông tin hiện trạng của dòng họ mình ra sao, từ đó sẽ nhập những thông tin cính xác cho cuốn Gia Phả mà họ sắp đưa ra. + Quản lý Gia Phả : Thủ tục quản lý phải đơn giản ngắn gọn dễ hiểu, dễ kiểm soát. Sự kết nối Cơ sở dữ liệu phải linh hoạt, chặt chẽ. Yêu cầu phải tạo ra được họ mới tuỳ ý theo người quản lý có quyền quyết định. Trong đó phải có sự quản lý mềm dẻo như có thể thêm người mới vào cuốn Gia Phả, có thể sử đổi thông tin khi cần thiết, khi thông tin của ai đó trong họ bị sai lệch. Có thể xoá bất kỳ cá nhân nào trong họ nếu như người đó không tồn tại hay chưa từng tồn tại. Ngoài ra sự bảo mật thông tin do người quản lý yêu cầu cũng có thể cần thiết. Hoặc không quan trọng lắm vì có thể cuốn Gia Phả được làm xong sẽ được lưu trữ và bảo quản thông quan đĩa CD. Còn về phía chúng tôi sẽ đưa ra sự thiết kế của mình như sau: Chương II : Phân tích và phân loại phần mềm I. Phân tích các chức năng: Biểu đồ phân cấp chức năng Hình 4. Biểu đồ phân cấp chức năng Chức năng chính của phần mềm có 3 điểm cần quan tâm như trên hinh vẽ QUẢN LÝ GIA PHẢ Quản lý In Thông Tin Tra cứu Nhập dòng họ Thêm thành viên Sửa đổi Tc.Theo ngày sinh Tc.Theo đời Tc.Theo họ tên Tc.Theo chi In thông tin cá nhân In danh sách Tc.Theo địa chỉ 1. Chức năng về Quản Lý: Trong chức năng Quản Lý sẽ phân ra làm 3 chức năng con như: + Nhập dòng họ : Chức năng này cho phép người Quản Lý có thể nhập một dong họ nào đó vào Gia Phả, điều này tương đương với việc lập một cuốn Gia Phả mới. + Thêm thành viên : Chức năng thêm thành viên được sử dụng khi dòng họ này có người mới sinh ra hoặc người này bị thất lạc và mới được tìm thấy. + Sửa đổi : Chức năng sửa đổi sẽ có tác dụng khi tat hay đổi thông tin sai lệch của cá nhân nào đó trong họ. Chức năng này có thể xoá bất kỳ người nào đó trong Gia Phả. 2. Chức năng Tra Cứu : Trong chức năng này sẽ phân ra làm 5 chức năng cần thiết sau: + Tra cứu theo Đời: Chức năng này sẽ in thông thông tin theo từng đời một khi một người tra cứu xem toàn bộ dòng họ theo đời. + Tra cứu theo Chi : Cũng tương tự như Tra cứu theo Đời thì Tra Cứu theo chi sẽ in toàn bộ thông tin của cả họ theo từng nhánh một. + Tra cứu theo Họ Tên: Khi người tra cứu nhập tên người muốn biết thông tin này thì toàn bộ những người nào có tên như vậy sẽ được hiện lên và in rõ thông tin của họ để người tra cứu biết. + Tra cứu theo Ngày Sinh: Cũng như tên, tra cứu theo ngày sinh cũng vậy. + Tra cứu theo địa chỉ : Muốn biết thông tin của người nào đó qua quê quán của họ. 3. Chức năng In Thông Tin : + In danh sách : In hay hiển thị toàn bộ thông tin của người trong dòng họ đó. + In thông tin cá nhân : In hay hiển thị chỉ thông tin cá nhân cần biết do người tra cứu yêu cầu. II. Biểu đồ luồng dữ liệu: - Luồng dữ liệu được chia ra làm hai mức quan trong nhất là: mức 0 và mức 1 Ở mức 0 : Thì tác nhân người sử dụng có hai yêu cầu chính như đã phân tích ở trên là Tra Cứu và Quản Lý. Người sử dụng đưa ra yêu cầu tra cứu (hay xem thông tin ) Gia Phả. Phần mềm này xe có sự phản hồi lại và đưa ra thông tin cần tra cứu cho người yêu cầu. Mặt khác người Tra Cứu này cũng có thể quản lý một cuốn Gia Phả thật sự hoặc rành riêng cho mình bằng cách yêu cầu thông tin về quản lý Gia Phả, và người dùng lại co sự trả lời phản hồi từ phần mềm trên. Những thông tin phản hồi có thể là sự hướng dẫn về Quản Lý, đưa ra thông tin: nhập, xoá, sửa và từng bước hướng dẫn người Quản Lý thao tác trên Giao Diện phần mềm được tốt hơn, linh hoạt hơn, đầy đủ ý và không rườm rà. Mức 0: Y.c tt Quản lý Thông tin quản lý Yêu câu tra Cứu Thông tin tra cứu Hình 5. Biểu đồ phân luồng giữ liệu Mức 0(mức đỉnh) Người Sử Dụng Quản Lý Gia Phả Ở mức 1: Mức 1 chính là sự phân tích chặt chẽ hay là sự mở rộng thật cần thiết từ mức 0. Ở đây ta phân tích rõ rang từng chưca năng với biểu đồ phân luôngf dữ liệu Người sử dụng có thể yêu cầu thông tin tra cứu và chức năng Tra Cứu sẽ lấy dữ liệu từ kho Gia Phả và cho biết thông tin cần tra cứu do người dùng yêu cầu đặt ra Người sử dụng có thể yêu cầu chức năng Quản Lý về sửa đổi thông tin cá nhân hay nội dung của dòng họ. Khi đó chức năng Quản Lý sẽ lấy thông tin từ kho Gia Phả cho Người Quản Lý xem và Người Quản Lý có quyền quyết định thay đổi thông tin hay không thay đổi thông tin. Người Quản Lý có thể yêu cầu chức năng Quản Lý về nhập họ mới hoặc thêm thành viên, xoá thành viên đã có trong Gia Phả Người sử dụng có thể yêu cầu chức năng In Thông Tin. Khi đó chức năng In Thông Tin này sẽ lấy thông tin từ Kho Gia Phả và hiển thị thông tin cho người dùng xem. Tuỳ yêu yêu cầu hiển thị thông tin như thế nào của người dùng, chức năng In Thông Tin sẽ in ra : chỉ in thông tin cá nhân hoặc in thông tin cả dòng họ. Ngoài ra trong chức năng này chúng ta sẽ thấy được tầm quan trọng của nó là có thể in thông tin những người đã làm Trưởng trong họ, int toàn bộ Nam hoặc Nữ. Hay in thông tin những người đữa mất cũng như những người còn sống… Mà trong biểu đồ phân luồng dữ liệu ở mức 1 chúng tôi chưa tiện đưa ra, và chúng tôi sẽ nói rõ, chi tiết hơn về vấn đề này khi thiết kế Giao Diện người dùng. Mức 1: Y.c nhập GP mới Y.c thêm thành viên Thông tin yêu cầu Thông tin cá nhân Y.c sửa đổi thông tin Yêu cầu tra cứu Kho Gia Phả Thông tin tra cứu Yêu cầu in thông tin Thông tin được đưa ra Thông tin được in ấn Hinh 6. Biểu đồ phân luồng dữ liệu Mức 1(mức dưới đỉnh) Người sử dụng Tra Cứu In Thông Tin Quản Lý III. Biểu đồ thực thể liên kết (E - A) Hình 7. Biểu đồ thực thể liên kết  Phân tích biểu đồ thực thể liên kết (E-A) Theo lược đồ trên ta sử dụng lược đồ (E-A) kinh điển (+) Phâm tích về thuộc tính: Lược đồ (E-A) ở trên : theo phân tích thì lược đồ trên cho 4 kiểu thực thể là kiểu thực thể : +Người Dùng : Yêu cầu người dùng nhập họ tên, ngày sinh,giới tính khi cần thiết. +Dòng Họ : bao gồm các thuộc tính mã họ và tên họ(tên dòng họ) +Danh Sách Thành Viên : có thuộc tính thứ tự(để chỉ thứ tự của từng người trong dòng họ). Trong thực thể này có thực thể con là thực thể Người(thực thể cá nhân) +Người : có các thuộc tính như : họ tên, ngày sinh, giới tính, quê quán, tiểu sử, tuổi thọ, đời. (+) Phân tích về liên kết : 1.Thực thể :“Danh Sách Thành Viên ” và “Người”: Trong thực thể Danh sách thành viên bao gồm các thuộc tính cá nhân như : thứ tự, họ tên, ngày sinh, giới tinh, quê quán, tiểu sử, tuổi thọ, đời. Vì Danh sách thành viên nó bao gồm cả thực thể người nên ta có thể phân tích ra một thực thể con. Là một thực cá nhân ghi gộp lại sẽ tạo ra một “Danh sach thanh vien”. 2. Thực thể : “Danh Sách Thành Viên” và “Dòng Họ”: Mỗi một dòng họ chỉ một danh sách thành viên và ngược lại, mỗi một danh sách thành viên chỉ có một họ ma thôi chúng. Hai thực thể này sẽ liên kết (1-1). 3.Thực thể : “Người Dùng” và “Dòng Họ” : Mỗi một dòng họ được sự quản lý từ một đến nhiều người. Mỗi một người có thể được phép quản lý một dòng họ hoặc không quản lý bất kỳ dòng họ nào (trong thực tế có thể có trường hợp một người quản lý nhiều dòng họ, nhưng ta không xét ở đây) Mỗi một người có thể không Tra Cứu bất kỳ dòng họ nào hoặc Tra Cứu một đến nhiều dòng họ IV. Bảng Quan Hệ và Mối Quan Hệ : Hình 8. Bảng quan hệ Bảng Quan Hệ ở trên gồm hai bảng liên kết với nhau là: bảng “Danhsachthanhvien” và bảng “Dòngho”. + Bảng Danhsachthanhvien bao gồm các cột : thutu(thứ tự cá nhân của một người trong dòng họ đó), Hoten(họ tên), Ngaysinh(ngày sinh), Gioitinh(Giới tính), Quequan(Quê quán), Tieusu(Tiểu sử bản thân), Tuoitho(Tuổi thọ), Doi(Đời). + Bảng Dongho có duy nhất một cột là : Tenho(tên họ). Chương III : Thiết Kế Giao Diện Người Dùng : Dao diện được thiết kế theo các chức năng sau: Hình 10. Giao diện chính 1.Chức năng Quản Lý Gia Phả: Hình 11. Giao diện với các chức năng con Trong chức năng Quản Lý Gia Phả gồm các chức năng con như hình trên như : Lập Gia Phả, Thêm thành viên, sửa đổi, Thoát.  Lập Gia Phả: Khi chọn chức năng này sẽ xuất hiện giao diện khác là “Lập Gia Phả”. Chức năng này sẽ giúp người quản lý sẽ lập một Gia Phả mới cho dòng họ của mình bằng cách nhawpj các thong tin cần thiết như trong hình và nếu đồng ý thực hiện thong tin trên thì click vào nút Đồng Ý và Gia Phả này bắt đầu có thành viên được nhập, nếu không đồng ý thì Nhập Lại. Hình 12. Giao diện khi Lập một Gia Phả mới  Thêm thành viên: Chức năng Thêm Thành Viên được dùng khi trong dòng họ có người mới ra đời hoặc dòng họ này lại tìm ra ai đó khi xưa bị thất lạc có thể là do Chiến Tranh Hình 13. Giao diện khi thêm thành viên  Sửa Đổi : khi thông tin của thành viên nào đó trong dòng họ được nhập vào có sai sót hoặc thiếu chi tiết thì người Quản Lý Gia Phả có thể sửa đổi lại bằng việc nhập vào các thông tin có trong giao diện. Hoặc người Quản Lý Gia Phả có thể xoá bất kỳ thông tin nao không cần thiết hoặc loại bỏ thành viên khỏi cuốn Gia Phả khi người này chưa bao giờ tồn tại. Hình 14. Giao diện khi sửa đổi thông tin 2. Chức năng Tra Cứu: Khi cuốn Gia Phả được người Quản Lý Gia Phả làm xong thì có thể các thành viên trong họ hoặc bất cứ ai cũng có thể xem thông tin thành viên nào đó trong họ bằng việc điền các thông tin cần thiết như trong giao diện đã được thiết kế sẵn. Người Tra Cứu có thể xem theo nhiều cách khác nhau như: xem Tất Cả, xem theo Họ Tên, Theo Đời, Theo Chi, Ngày Sinh, Quê Quán, Giới Tính. Và nhập các thông tin tương ứng bên cạnh. Hình 15. Giao diện khi Tra Cứu tin thành viên 3. Chức năng Xem Thông Tin: Chức năng Xem Thông Tin được thiết kế với các chức năng con như: Xem Thông Tin Cá Nhân, Xem Thông Tin Gia Phả(Xem Theo Đời, Xem Theo Chi, Thông tin Khác ), Xem Người Đã Mất. Hình 16. Giao diện chính khi xem các thông tin khác 3. Ngoài ra còn có các chức năng:  Đặt Tên Cho Con: Khi một thành viên nào đó trong dòng họ được sinh ra. Ta có thể Tra Cứu xem nếu đặt tên con có trùng với tên một ai đó trong họ hay không.  Hướng Dẫn Sử Dụng:  In Ấn : Vì phần mềm này được dùng chỉ cho một dòng họ, khi người nào đó Lập Được Gia Phả mới thì họ có thể ghi ra thông tin đó ra một chiếc đĩa và có thể phát cho các thành viên trong dòng họ mình được xem, thông tin có thể được in ra và ghi tuỳ theo người lựa chọn. Cho nên chức năng này chúng tôi cũng không xét kỹ. Mục Lục Trang Lời nói đầu 3 Chương I : Phân tích yêu cầu người dùng 4 1.Khảo sát tình hình 4 2.Phân tích yêu cầu người dùng 9 a. Người Tra Cứu 9 b. Người Quản Lý 10 Chương II : Phân tích và phân loại phần mềm 11 I. Phân tích các chức năng 11 1. Chức năng về Quản Lý 12 2.Chức năng Tra Cứu 12 3.Chức năng In Thông Tin 13 II.Biểu đồ luồng dữ liệu 13 > Mức 0 : (mức đỉnh ) 13 > Mức 1 : (mức dưới đỉnh) 14 III. Biểu đồ thực thể liên kết (ERD) 16  Phân tich biểu đồ thực thể lien kết(ERD) 17 + Phân tích về thuộc tính 17 + Phân tích về thực thể liên kết 17 IV. Bảng Quan Hệ và Mối Quan Hệ 18 Chương III : Thiết Kế Giao Diện Người Dùng 19 1.Chức năng Quản Lý Gia Phả 20 2. Chức năng Tra Cứu 23 3. Các chức năng khác 25 Mục lục 26

Viết gia phả thế nào?

Viết gia phả thế nào?

Không ít gia đình vẫn còn giữ được những cuốn gia phả từ xa xưa. Song việc dựng lại gia phả dòng họ trước đây và viết tiếp về thế hệ mình cho con cháu lưu lại của nhiều gia đình, dòng họ đang gặp không ít khó khăn. Bởi vấn đề được đặt ra là: Viết thế nào cho đúng?
Viết gia phả - việc làm cần thiết của mỗi dòng họ
Trong văn hoá Hán, “gia” có nghĩa ban đầu là tổ hợp hai người nam nữ kết hôn với nhau, sau đó được dịch là “nhà” (có lẽ bắt nguồn từ đây mà người Việt Nam thường gọi vợ/chồng của mình là “nhà tôi”). Một khái niệm liên quan mật thiết tới vấn đề gia phả nữa, đó là khái niệm “họ”.
Trong văn hoá Trung Quốc chữ “tính” có nghĩa là Họ. Tính dùng để chỉ mối liên hệ dòng máu, chỉ những người cùng sinh ra từ một ông tổ. Còn chữ “họ” trong ngôn ngữ người Việt được hiểu là hàm ý là một thị hay một tộc. Gia phả xuất hiện trong văn hoá Trung Quốc vào khoảng thời Chiến quốc - khi đã hình thành những dòng họ lớn.
Trong tiếng Việt, những khái niệm liên quan tới vấn đề này có cha, mẹ, con, cháu,  chắt, chít (5 thế hệ - ngũ đại đồng đường). Như thế có thể hiểu, hệ thống thân tộc nội ngoại hiện hành cũng như dòng họ là kết quả giao lưu văn hoá Việt - Trung thời xa xưa. Và sự ra đời gia phả ở nước ta có quan hệ tới sự hình thành những đại gia tộc Nho học - thường là những gia tộc có người đỗ đạt làm quan.
Ngày nay, khi đời sống được cải thiện, “phú quý sinh lễ nghĩa”, mọi người đã có nhiều điều kiện để nhìn lại dòng tộc mình hằng mong tìm lại cội nguồn – cái nôi đã sản sinh ra mình ra gia tộc của mình. Và gia phả chính là phương tiện để ghi lại dòng tộc đang hiện hữu trong tâm thức của mỗi chúng ta. Đó cũng là những nét đẹp trong văn hoá truyền thống của người Việt Nam.
Từ gia phả để nối phả
Việc thay tên đổi họ đã từng xảy ra trong lịch sử, đặc biệt là những dòng họ vì lý do tồn tại mà phải đổi thành họ khác. Ví như khi nhà Lý mất nước, con cháu họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn để tránh bị trả thù. Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, khi nhà Mạc đổ thì con cháu họ Mạc cũng phải đổi sang họ khác.
Giờ đây chúng ta thường có khái niệm “vấn tổ tầm tông” – mà gia phả là một trong những “chỉ điểm” chính xác và lâu đời nhất. Từ xưa, ông cha ta rất có ý thức về cội nguồn nên thường mở đầu một bản gia phả bằng cách ghi gốc tích dòng họ mình, ví như: “Họ Nguyễn ta vốn gốc từ thôn X, xã Y, huyện Z...”. Chính nhờ những dòng ghi chép này mà người ta có thể tìm hiểu để nối phả. Nối phả là xem xét gốc tích cụ tổ dòng họ mình, tìm về gốc tổ, so sánh gia phả để phát hiện ra cụ tổ của dòng họ mình thuộc chi nào, nhánh nào từ một dòng họ có gốc gác lâu đời hơn.
Hiện nay, trong trào lưu chung, nhiều dòng họ đang tiến hành viết lại gia phả. Có những dòng họ có điều kiện thì in ấn rất đẹp và trang trọng. Việc viết lại gia phả là rất cần thiết, bởi vì, gia phả của các cụ ta xưa viết bằng chữ Hán, nay số người biết chữ Hán trong các làng xã đã rất hiếm hoi, nếu không kịp thời dịch ra quốc ngữ thì nguy cơ sau này không còn ai đọc được gia phả nữa. Mà đã dịch ra quốc ngữ thì nhân tiện, những người “phụ trách” vấn đề gia phả biên soạn lại cho hợp lý hơn và bổ sung thêm những chi tiết mới.
Mặt khác, đất nước ta trải qua mấy mươi năm chiến tranh, bộn bề công việc, nhiều dòng họ chưa có điều kiện bổ sung gia phả mà các thành viên trong dòng họ thì được bổ sung thường xuyên theo thời gian. Người già mất đi, lớp trẻ sinh ra và lớn lên thay thế. Trung bình cứ 25-30 năm đã là một thế hệ mới. Vì vậy, việc viết lại và tục biên gia phả là điều không thể không làm.
Viết thế nào cho đúng?
Gia phả được hiểu là lịch sử của một dòng họ. Để cho gia phả có giá trị, phát huy được tác dụng đối với con cháu, qua tham khảo gia phả của một số dòng họ, xin chia sẻ đôi điều như sau:
Thứ nhất, phải hiểu rằng, viết gia phả là viết sử, sử của dòng họ, chứ không phải viết văn. Vì thế, hành văn phải ngắn gọn, giản dị, trong sáng, dùng từ phải chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, không nên dùng ẩn nghĩa, gây hiểu nhầm.
Thứ hai, viết gia phả là sưu tầm, biên soạn những tư liệu về cuộc sống đã qua của các bậc tiên tổ cũng như nhiều thế hệ trong dòng họ để nêu cao truyền thống tốt đẹp của dòng họ để cho con cháu noi theo.
Thứ ba, muốn viết gia phả phải có một hội đồng. Người chép phả phải là người có kiến thức sâu rộng (nhất là kiến thức về lịch sử) để khi viết về nhân vật nào, thời đại nào, đều có thể hình dung được bối cảnh lịch sử của thời kỳ đó. Không nên thiên vị chi nọ, cành kia, gây ấn tượng không tốt cho con cháu về sau;
Thứ tư, không nên duy trì quan điểm “trọng nam khinh nữ” mà không ghi tên con gái trong gia phả, vì như thế sẽ gây khó khăn cho việc tìm hiểu tư liệu sau này.
Có nhiều cách trình bày gia phả. Có thể viết theo chiều ngang, tức là những người bằng vai, cùng thế hệ thì viết về họ cùng một lượt, sau đó mới viết đến thế hệ sau. Có thể viết theo chiều dọc, tức là chép từng chi, từ trên xuống dưới, hết chi này đến chi kia.. Điều này thường được quyết định bởi hội đồng viết gia phả của từng họ.
Văn Minh

Các bạn đọc xong, nếu có nhu cầu thiết kế gia phả  , vui lòng liên hệ với chúng tôi:

Email: Dichvugiapha@gmail.com
Điện thoại: 0936375511

Gia phả và nhà thờ họ

Thật cảm động khi nhìn thấy từ gia phả những lời nhắn nhủ, răn dạy đạo đức của các bậc tổ tiên đối với con cháu cho đến hôm nay vẫn còn nóng hổi ý nghĩa: "Con cháu nhà ta, ai nấy đều phải biết tôn trọng lời dạy của ông bà, phải lấy việc cày cấy, đọc sách, học hành làm nghiệp... phải lấy điều hiếu thuận làm đầu, thì sẽ hạnh phúc". Ngoài việc ghi chép đầy đủ lịch sử của gia tộc và thế thứ các nhánh, các chi của mỗi dòng họ, gia phả còn mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Cội rễ, gốc gác với nhiều người Việt Nam thật đơn giản mà ý nghĩa vô cùng to lớn. Cùng với gốc đa, giếng nước, sân đình, những hình ảnh tiêu biểu của làng quê Việt Nam, cội rễ với đa phần người Việt còn là sự gắn kết và tiếp nối của bao thế hệ qua những bộ gia phả, những nhà thờ họ. Với mỗi dòng họ, gia phả và nhà thờ họ là điểm tựa tinh thần của hiện tại từ quá khứ. Nhà có phả cũng như nước có sử, phả nhà để ghi chép thế thứ các đời theo hệ thống huyết mạch, trên dưới, mà thuật lại phân minh về bản chi, khiến cho muôn đời con cháu nhìn vào thì thấy rõ ràng như ở trước mắt.
Cũng như nhiều dòng họ khác trên cả nước, dòng họ Nguyễn Thạc ở Thôn Lăng - Làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn - Bắc Ninh từ nhiều đời nay luôn khắc ghi những truyền thống tốt đẹp của tổ tiên. Hàng năm, những người con của dòng họ Nguyễn Thạc dù xa gần đều hành hương tưởng nhớ, viếng mộ tổ dòng họ - Người đã làm rạng danh dòng họ - cụ Nguyễn Thị Ngọc Long. Trong gia phả họ Nguyễn Thạc có ghi rằng: Cuối thời Lê Mạc sang đầu thời Mạc, ở làng Đình Bảng, huyện Đông Ngàn, Phủ Từ Sơn trấn Kinh Bắc có gia đình ông bà Nguyễn Thạc ÇŽn ở hiền lành, phúc đức, ông bà sinh được một gái đầu lòng đặt tên là Nguyễn Thị Long mà sau này khi vào làm Phi chúa Minh Khang Thái Vương đổi là Nguyễn Thị Ngọc Long. Người con thứ là trai là Nguyễn Thạc Căn. Ông Căn nắm được cả lục ban võ nghệ, bốn bộ binh thư nên rất tài giỏi đã qua trÇŽm trận đánh lập công báo quốc được Vua phong là Tuyên Quận công. 7 đời con cháu ông liên tục làm quan, phò Vua giúp nước. Gia phả của một nhà, một dòng họ được coi như bộ sử nhỏ của một nước.
Trong nền văn hóa Phương Đông, lịch sử gia phả đã có trên 3000 nÇŽm, châu Âu đã có gần 500 năm. Gia phả được coi như một bức tranh lịch sử thu nhỏ của một dòng họ, thậm chí lớn hơn là của một làng, một vùng đất cùng với những sự kiện lịch sử, những biến đổi xã hội liên tục, sự tham gia và những ảnh hưởng của dòng họ đến tiến trình của lịch sử xã hội của những vùng, miền khác nhau.
Tại Việt Nam, gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha. Theo các nhà sử học phỏng đoán thì gia phả đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ hoặc gần hơn tức là từ thời Lý Nam Đế (khoảng nÇŽm 476-545). Nhưng phải đến thời nhà Lý, nhà Trần (thế kỷ IX - XIII), cùng với hàng loạt những chiến công hiển hách, chấn động phương Bắc của cha ông ta chống lại các thế lực xâm lược từ phía Bắc tràn xuống, đất nước được thanh bình trong một thời gian dài mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích toàn họ), phả ký (ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên).
Mới đầu gia phả xuất hiện chỉ trong Hoàng tộc cùng giới quan lại. Nhà Lý có "Hoàng Triều Ngọc Điệp" - năm 1026; nhà Trần có "Hoàng Tông Ngọc Điệp", nhà Lê có "Hoàng Lê Ngọc Phả"... Cùng với sự xuất hiện các gia phả của Hoàng tộc là gia phả của các Danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến ghi chép gia phả trong nhân dân.
Trước Cách mạng Tháng 8, gia phả chủ yếu được ghi chép bằng chữ Nho nhưng số người giỏi chữ Nho không nhiều, qua nhiều năm chiến tranh, nhiều bộ, cuốn gia phả của nhiều dòng họ cũng mất dần... Ngày nay, ý nghĩa của những bộ gia phả đã được thừa nhận bởi những giá trị đạo đức, văn hóa tinh thần to lớn với mỗi con người trong từng dòng họ. Từ xa xưa đến ngày nay, việc thờ cúng tổ tiên luôn là nền tảng của những nghi thức tôn giáo ở trong mọi con người Việt Nam. Vì Việt Nam là đất nước có nền văn hiến lâu đời với một tôn giáo truyền thống bao trùm là đạo thờ cúng ông bà, tổ tiên, những người có công với đất nước, với nhân dân. Giáo sư Trần Văn Giầu - một nhà văn hóa Việt Nam đã nhận định: Xưa nay ông bà ta luôn luôn cho rằng để giáo dục con cháu không gì hay hơn dạy lịch sử: lịch sử dân tộc, lịch sử quê hương, lịch sử gia đình. Đạo đức, nhân cách con người Việt Nam xuất phát từ những lời giáo huấn của các vị thánh hiền, các lời dạy dỗ của tổ tiên được đúc kết trong các bộ gia phả lưu truyền qua nhiều đời, như là gương mẫu "đối nhân xử thế" trong cuộc sống.
- Gia phả có giá trị về lịch sử - Gia phả có giá trị về đạo đức - Gia phả có giá trị khuyến khích học hành.
Gia phả là tài liệu cụ thể nhất để giáo dục truyền thống quý báu của dòng họ, gắn liền với truyền thống dân tộc cho từng gia đình, từng con người. Truyền thống ấy đã trở thành trách nhiệm của mỗi gia đình, mỗi dòng họ. Trong thực tế xã hội đang có những chuyển biến về tư tưởng, lối sống, đã xuất hiện sự đi xuống và bÇŽng hoại về đạo đức của một phần không nhỏ thanh niên. Do đó, việc giáo dục, định hướng cho thanh thiếu niên những kiến thức về dòng họ, về giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống của dòng họ là thực sự cần thiết bởi thế hệ trẻ với những kiến thức về giá trị văn hóa, đạo đức của gia đình, dòng họ có thể điều chỉnh năng lực hành vi của mình đúng đắn trong cuộc sống.
Gia phả được các nhà sử học coi là nguồn bổ sung cực kỳ quan trọng cho chính sử bởi những thông tin từ những nhân vật, sự kiện của dòng họ đều được ghi lại một cách trung thực, cụ thể và rõ ràng trong gia phả. Việc thờ cúng tổ tiên là nền tảng của gia đình Việt Nam, gia đình từ ông cố, bà cố, xuống cháu chắt đều sống chung trong một mối dây liên hệ hết sức chặt chẽ về huyết thống, máu mủ. Làm người ai cũng có cha mẹ, ông bà, tổ tiên như cây có cội nguồn, có gốc, có rễ. Hướng về nguồn cội là những cảm xúc, những tâm tư cùng một thế giới tâm linh trong sáng, thiêng liêng với những cảm hứng vang vọng, xuất phát từ đáy lòng qua sự khôi phục, bổ sung và duy trì sự liên tục của gia phả dòng họ, nhà thờ họ là trào lưu vÇŽn hóa đang phát triển ở nước ta hiện nay. Có những bộ gia phả của một số dòng họ được viết các đây vài trÇŽm nÇŽm nay vẫn được lưu giữ cẩn thận, để lưu giữ truyền qua nhiều thế hệ thì thật không phải là dễ. Gia phả cùng với nhà thờ họ luôn sống mãi trong từng con người Việt Nam:
- Nhà thờ họ trường tồn tượng trưng cho một dòng họ bền vững, lâu đời - Nhà thờ họ nơi lưu giữ những giá trị tinh thần to lớn.
Nhà thờ họ cũng là nơi lưu giữ gia phả, vÇŽn tự cổ cùng những sắc phong, tượng thờ, bài vị cùng những điển tích về dòng họ. Nhà thờ họ cũng là nơi lưu giữ những di vật của tổ tiên. Đây có thể được coi như một bảo tàng thu nhỏ của dòng họ bởi nó chứa đựng rất nhiều thông tin về dòng họ. Nội thất bên trong nhà thờ được sắp đặt trang nghiêm, có thứ tự rõ ràng và sự sắp sếp có chủ ý thể hiện những thông tin về gia đình, dòng họ được kết cấu một cách chu đáo, đầy đủ để con cháu trong họ cũng như người ngoại tộc có thể hiểu khá tường tận về lịch sử của dòng họ cùng những con người, những danh nhân của dòng họ. Vào đời thứ 3 của dòng họ Nguyễn Thạc có Cụ Nguyễn Thạc Lượng làm quan ở Trấn Thanh Hoa. Cụ đã dành dụm của cải để đóng góp cho quê hương mình là làng Đình Bảng một ngôi đình. Đầu tiên cụ cho dựng nhà thờ họ để luyện thợ và lấy kiểu làm đình làng. Nhà thờ cụ cho xây dựng là một công trình hoành tráng đồ sộ hiếm có, với kiến trúc thuần nhất của người Việt. Các công trình nhà thờ họ Nguyễn Thạc, Đình làng Đình Bảng làm xong, công lao ông bà Nguyễn Thạc Lượng và Nguyễn Thị Nguyên to lớn không kể xiết. Ông bà được bà con, họ hàng, làng nước vô cùng biết ơn và trân trọng.
Nhà thờ họ được coi như điểm hội tụ, thờ cúng tổ tiên, ông bà, những người anh hùng, những danh nhân, những người có công với đất nước, làm lưu danh dòng họ trong sử xanh của đất nước, của dân tộc. Nhà thờ họ luôn có một vị trí đặc biệt trong thế giới tâm linh của những người con trong dòng họ bởi đó là nơi giúp họ nhớ lại những đỉnh cao vinh quang của dòng họ, những tấm gương sáng của tổ tiên và đồng thời những ước vọng của mỗi còn người trong dòng họ được nguyện cầu tại đây. Truyền thống cả dân tộc cũng như mỗi dòng họ, mỗi gia đình cần phải gìn giữ là: "Uống nước nhớ nguồn, nhân hậu thuỷ chung, thương người như thể thương thân, đoàn kết tương thân tương ái làng xóm khi tối lửa tắt đèn, hiếu học, sẵn sàng hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, lao động cần cù, sáng tạo ...".
Là lịch sử văn hóa của dòng họ và gia đình ở Việt Nam, gia phả còn được coi như một di sản văn hóa quý giá của dân tộc. Không chỉ là cơ sở để các dòng họ, các chi họ lần tìm về gốc rễ, chắp nối cội nguồn, gia phả còn luôn giữ vai trò quan trọng xuyên suốt trong việc củng cố gia tộc, gia đình và giáo dục đạo đức cho con cháu. Bởi vì, gia phả không chỉ giúp cho con cháu biết gốc gác của mình từ đâu, họ hàng là ai, tổ tiên công đức ra sao, gia phả còn được gọi là gia bảo vì đó là lịch sử của tổ tiên nhiều đời truyền lại, chứa đựng những điều tổ tiên muốn gửi gắm lại cho đời sau. Từ gia phả, từ gia tộc, từ tiểu chi đến đại tông, cả dòng họ. Đó chính là sự đa hướng, đa lớp để bảo vệ nề nếp gia phong, truyền thống dòng họ, thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc hôm nay và mai sau.

Các bạn đọc xong, nếu có nhu cầu thiết kế gia phả , vui long liên hệ với chúng tôi:

Mr Sơn: 0936375511